Con nước Bến Giằng
VHXQ - Tôi lên cầu Bến Giằng khi mặt trời chưa ló dạng. Chạy xe máy từ Thạnh Mỹ lên, sương lạnh như lạc vào khung trời khác, chứ không phải cũng cung đường đó, buổi trưa đứng ở sân nhà bạn ngó điện thoại báo thời tiết, nó chỉ con số nhiệt độ ngoài trời là 370C.

Ngã ba của những dòng nước
Vắng và vắng. Chỉ có quán bánh mì và café mang đi ngay lối vào trường học sát UBND xã Bến Giằng đã rục rịch.
Bao lần lên đây, ngang qua và liếc ngó, ngã ba con sông Thanh và Nước Mỹ này như cái bắt tay của người bạn, mà điểm xuất phát ban đầu từ hai ngõ, một từ ngõ Đắc Pring xuống, ngõ kia từ Phước Sơn, rồi cuối cùng gặp nhau như hai bài thơ thể tự do, đi qua bao thác nghềnh của đá cuội, vách núi dựng đứng, ầm vang lẫn âm thầm của rừng già.
Nơi giao hòa đó, ở ngay dưới lòng cầu Bến Giằng này, như bài lục bát mà đoạn đầu như đã nói, là đã được phá thể, để cuối cùng hoàn nguyên bản thể bởi nước là thứ dễ hòa tan nhất, mà đích của nó là từ đây, sẽ là cuộc chạy đua về ngõ Đại Lộc, để rồi hòa vào sông lớn êm đềm đi qua những làng quê trung du bát ngát tiếng gà rồi đổ về biển.
Có lần đứng ngó, nhớ cái câu “Ai về nhắn với nậu nguồn/ Mít non gửi xuống, cá chuồn gửi lên”, nghĩ, nó đẻ ra từ những bến sông như thế này, ngay trên những khoang thuyền mà kẻ ở xuôi đã chống chèo lên tới đây, đón mít non, mật ong, mây rừng, dầu rái mà chở về.
Ở biển, mít non mang về, kèm với củ nén, trùm lên đó nghệ tươi có cá chuồn, khử dầu phụng mà chiên, thì có đánh chết cũng ráng ăn một miếng.
Và câu đó, là lời hàm ơn của kẻ ở biển với bạn nguồn, rằng nhờ đó mà mình biết nơi núi cao rừng thẳm với những tộc người sống dưới tán rừng, cũng bề thế thẳm sâu bao điều mà chỉ có ở ăn với họ, mới hiểu được văn hóa vùng đất xứ Quảng mình đâu chỉ ruộng vườn, biển cả, sông hồ…
Dấu chân trên bến cũ
Có lẽ vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng sau 1975 đến bây giờ, chưa có nơi nào mà gặp gỡ, chia ly, rồi tái hợp, dù lớn hay nhỏ, huyện hay xã, mà liên tục như Bến Giằng.
Thời huyện Giằng thì trụ sở đóng ở Thạnh Mỹ. Đến khi đổi thành Nam Giang, dời trụ sở huyện lên Bến Giằng, biến nơi này thoắt từ im lặng sang xôn xao xe người. Rồi, lại chuyển trụ sở huyện về Thạnh Mỹ. Nó lặng đi trong hụt hẫng. Và bây giờ, thành trung tâm của xã Bến Giằng.
Đến hay đi, hãy hỏi con nước dưới sông là biết. Nó đo được tâm tính con người đó.
Anh Nguyễn Đình Chậm, nguyên cán bộ huyện Nam Giang, là người sưu tầm tài liệu viết lịch sử Đảng bộ huyện Nam Giang, nói rằng, tài liệu của ông Quách Xân đã ghi rõ năm 1906, Pháp đã xây dựng chợ Bến Giằng, thành nơi giao thương.
Xe từ biển, từ ngõ Đại Lộc lên chở muối, cá khô, mắm, những vật dụng cần thiết, để rồi bà con bên kia sông gùi sản vật rừng đem xuống đổi.
Người có công lớn mang sản vật từ xuôi lên nhiều nhất, rồi nắm thông tin từ lính Pháp để báo lại cho cách mạng lẫn người dân những trận càn sắp tới, là ông Trần T. ở chợ Hà Nha. Nhưng cũng ông này, chơi trò “hai mang”, mật báo cho Pháp thông tin cách mạng… Đâu được vài năm, chợ phiên này cũng dẹp, vì Pháp thấy âm mưu lập ra để dụ dỗ mua chuộc dân chúng không được gì.
Tôi có người bạn là đạo diễn phim tại Sài Gòn, bao lần nói là hãy chuẩn bị cho anh tài liệu về con đường muối tại Bến Giằng, bởi với anh, không biết vì lý do gì, mà một lần theo đường Hồ Chí Minh qua đây, anh bị ám ảnh bởi ngã ba sông này. Thứ thôi thúc kỳ lạ, không gọi tên được.
Với chiến tranh, đây là tọa độ lửa. Cũng anh Chậm kể rằng, người đưa cán bộ, bộ đội qua sông Bến Giằng, ngay tại đây, còn đó. Đó là ông A Viết Rin. Còn cái phà khi chưa có cầu sắt rồi cầu bê tông bây giờ, người lái phà cũng còn sống, là ông Nuôi ở Thạnh Mỹ…
Lịch sử mãi mãi là những lát cắt, những chuyển đoạn lắm khi đầy bất ngờ, nhưng định mệnh của một vùng đất, nếu khởi thủy nó được sinh ra để kết nối, lan tỏa, thì sớm muộn sẽ hiện hình đúng như bản thể của nó. Với tôi, Bến Giằng là vậy.
Bây giờ nó xôn xao người xe, bởi là trung tâm xã. Từ đây, rẽ lên Khâm Đức rồi đi cửa khẩu qua Lào. Mới lập lại trung tâm 1 năm, chưa nói được gì cả, nhưng quy luật là quy luật, có đông người, tất sẽ có chợ.
Chị A Lăng Thị Vế đi rẫy sớm. Nhà chị bên kia cầu. Tôi gặp chị ở giữa cầu, người phụ nữ Cơ Tu mới 50 tuổi mà già xọm. “Ừ, nhiều người rồi, cũng vui, chứ mấy năm trước thì buồn, ít người lắm”, chị nói và nhìn dưới sông, nơi ngã ba hai con nước gặp nhau.
Với thi sĩ, con đường ngã ba hay ngã ba gặp gỡ, là thứ phiền phức, bởi có sẽ sinh tình, còn tình trôi đến đâu, ra sao, lại là chuyện khác. Nhưng với người Cơ Tu như chị, là sợ nước lụt. “Năm 2020, nước lớn lắm, lút cầu đó, bà con mình di dời sớm, không thì chết”. Ký ức như chưa thôi hốt hoảng.
Hồi chưa có cầu, thì ôi thôi là khổ. Phá được thế độc đạo, an toàn, là câu chuyện phải làm ở thời này, nhưng dựng bức tranh ổn định và phát triển không phải cứ có tiền là được.
Đợi một phiên chợ mới
“Ưng có chợ mới nhiều đồ, mấy đứa con mình phải chạy xuống Thạnh Mỹ mua đồ, không xa, nhưng lúc cần liền không có”. Lời chị như rơi xuống, tan vào mặt nước sông sớm như đứng im.
Mặt trời đã lên sau ngọn núi Tà Râm. Tôi hỏi mãi, mới biết núi có tên đó vì ở đó có con suối Tà Râm.
Tôi ngó lại cái ảnh chợ Bến Giằng 1906, thấy rõ ghe bầu in ở đó, mà ghe bầu thì Hội An, Duy Xuyên, Thăng Bình một thuở chứ đâu ra! Những tình tự đổi trao cái ăn cái mặc, để rồi dựng hồn cốt, sự hiểu biết qua lại, để không nơi nào đóng khung lấy mình, là con đường không thể tự nhiên mà có.
Khai thác thế mạnh đường thủy để làm du lịch, chưa bao giờ là thất thế, dù bất cứ đâu. Vấn đề là dám làm và có cách làm tốt hay không thôi.
Mặt trời in bóng loang trên mặt nước, như nhắc nhở một thứ báu vật mà trời cho ngay ngã ba sông này. Nắm được nó và vui từ đó, giàu từ đó, sớm hay muộn, có hay không, là chuyện của kẻ qua lại hằng ngày cây cầu này.
Tôi nhìn theo cái gùi nhảy lên lưng chị Vế và những người đàn bà đi làm rẫy sớm, bước chân lặng lẽ qua cầu, như một dấu hỏi về ngày mai.
Thèm ở đây mai mốt có cái chợ ra dáng vùng cao đàng hoàng, có khi ăn đứt những chợ bê tông bề thế đã và đang có, để mình vào đó, thấy cả một trời núi rừng mà tên gọi của nó chính là văn hóa vùng cao hiển hiện trong tiếng cười sau những nhộn nhịp của mùi chợ núi…