Gặp người nữ anh hùng tay không bắt giặc Mỹ
VHXQ - Hơn nửa thế kỷ sau ngày rời chiến trường Quảng Đà, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Trần Thị Chính vẫn mang trên mình những di chứng của chiến tranh. Nhưng điều khiến nhiều người nhắc đến cô không chỉ là những chiến công năm cũ, mà còn là nhiều năm bền bỉ đi tìm hài cốt đồng đội, giúp đỡ gia đình chính sách và sẻ chia với những phận đời còn khó khăn.

Một thời tuổi trẻ, cô Trần Thị Chính là nữ du kích gan dạ trên chiến trường Quảng Đà, từng nhiều lần đối mặt với quân Mỹ, trong đó có chiến công một mình tay không bắt sống lính Mỹ đã trở thành giai thoại.
Sinh ra và lớn lên ở thôn Đông Hòa (xã Điện Thọ, huyện Điện Bàn cũ, nay là xã Điện Bàn Tây), 6 tuổi, cô bé Chính tận mắt chứng kiến cha hy sinh dưới thời luật 10/59, khi máy chém của chính quyền Ngô Đình Diệm gieo rắc chết chóc khắp miền Nam. Không lâu sau, mẹ cũng chết vì bom đạn. Những mất mát nối tiếp ấy đã sớm hun đúc trong cô lòng căm thù giặc và ý chí dấn thân.
Năm 16 tuổi, theo chị gái vào Sài Gòn học may, Trần Thị Chính được giác ngộ cách mạng và nhanh chóng tham gia hoạt động bí mật. Ban đầu làm liên lạc bí mật trong nội thành, khi bị lộ, cô trở về thôn Đông Hòa, mở tiệm may làm bình phong để tiếp tục hoạt động.
Cô thợ may duyên dáng với nụ cười hiền nhanh chóng khiến không ít lính Mỹ, ngụy đem lòng cảm mến. Từ những cuộc trò chuyện tưởng chừng vô tình, cô thu thập được nhiều nguồn tin quan trọng về các cuộc càn quét và âm mưu của địch.
Đầu năm 1964, đội công tác diệt tề về Đông Đức (xã Điện Thọ cũ) hoạt động nhưng chưa kịp rút thì địch càn tới. Trần Thị Chính được giao bảo vệ tám thương binh đang ẩn trong vườn mía.
Nhưng vườn mía lại nằm ngay trên đường tiến của đoàn xe bọc thép gồm 22 chiếc đang dàn hàng ngang ầm ầm lao tới. Trong tình thế khẩn trương đó, cô Chính đã lao ra nằm chặn ngay trước mũi đoàn xe, miệng la lớn:
- Các anh ơi, đừng chà mía, chà mía nhà em chết đói mất!
Đoàn xe vẫn lao tới. Khi chiếc M113 chỉ còn cách vài gang tay mới phanh gấp, tên sĩ quan nhảy xuống, dùng ba-toong quật tới tấp vào người cô gái rồi quát:
- Cộng sản biểu mi ra chặn xe hử? Không khai mau, tao giết!
Cô bình tĩnh đáp:
- Không ai biểu tui hết. Ba mẹ tui chết cả, mình tui nuôi sáu đứa em. Các ông chà mía thì chà tui trước để tui khỏi thấy mấy đứa em tui chết đói.
Đuối lý trước cô gái nhỏ gan góc, tên chỉ huy buộc phải cho đoàn xe chuyển hướng. Tám thương binh được an toàn.
Nhưng chuyện vui nhất trong những tháng năm hoạt động cách mạng của cô Chính là chuyện cô một mình tay không đã bắt sống một tên giặc Mỹ. Đó là vào khoảng giữa năm 1967, tại làng Đông Đức có một tốp lính Mỹ thường xuyên phục kích, đánh hơi, khui nhiều hầm bí mật, bắn chết nhiều cán bộ của ta từ căn cứ và các vùng phụ cận về hoạt động. Căm giận bầm gan, cô Chính tìm cách trả thù.
Sáng hôm ấy, một cơ sở cách nhà cô Chính gần 100 mét bỗng kêu vọng sang: “Bớ chị Tư, kêu con Chính bắt con gà trống trả tui!”. Đó là ám hiệu báo có lính Mỹ đang mai phục.
Cô Chính liền ăn diện thật đẹp, sang chơi. Cô gái đang mơn mởn trăng rằm, mái tóc buông lơi sau đôi vai tròn trịa, gương mặt ngời sáng, tươi cười đã hút hồn một tên lính Mỹ. Khi được người đẹp ngỏ ý mời về nhà chơi, hắn hối hả theo ngay mà không hề nghi ngại. Và cô đã dẫn hắn đi thẳng đến điểm du kích ta mai phục cách đó chừng 200 mét...
Mười bảy năm sau ngày đất nước thống nhất, tổ chức MIA sang Việt Nam tìm hài cốt lính Mỹ. Họ ngỏ ý xin được gặp lại cô gái bắt sống lính Mỹ năm xưa. Họ đặt ra cho cô nhiều câu hỏi, nhưng nội dung vẫn xoay quanh một vấn đề: “Vì sao cô lại bắt sống lính Mỹ, rồi lại đối xử nhân đạo với họ?”.
Cô trả lời: “Cha mẹ, đồng bào, đồng chí tôi bị lính Mỹ giết hại, làm sao tôi đứng yên được? Tôi phải chiến đấu để quét sạch quân xâm lược. Nhưng người Việt Nam luôn đặt chữ nhân nghĩa lên hàng đầu, nên khi họ đã bị bắt, chúng tôi vẫn đối xử có tình”.

Chiến tranh đã cướp của cô tuổi xuân và một phần thân thể. Thế nhưng, người nữ Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ấy chưa bao giờ sống cho riêng mình.
Suốt nhiều năm sau ngày đất nước hòa bình, hễ nghe nơi đâu phát hiện hài cốt liệt sĩ, cô lại tìm đến ghi chép thông tin, gửi báo, đài để nhắn tìm thân nhân. Những gia đình chính sách chưa được hưởng chế độ, cô tận tình hướng dẫn làm hồ sơ, đề nghị chính quyền địa phương hỗ trợ, vận động bà con góp tiền xây nhà tình nghĩa, xây mộ liệt sĩ. Lương hưu cùng những đồng tiền chắt chiu từ quán nước nhỏ bên hông chợ Hàn, cô đều dành một phần để giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn.
Giờ đây, tuổi đã ngoài tám mươi, sức khỏe ngày một yếu, những vết thương chiến tranh vẫn hành hạ mỗi khi trái gió trở trời, cô được người em trai đón về chăm sóc. Trí nhớ cũng không còn được minh mẫn như trước, nhiều câu chuyện của một thời trận mạc chỉ còn nhớ đứt quãng, nhưng mỗi khi còn đủ sức khỏe, cô vẫn tham gia các hoạt động thiện nguyện, vẫn đau đáu với việc tri ân đồng đội và giúp đỡ những người kém may mắn.
Cô kể, ước mơ lớn nhất đời là được một lần gặp Bác Hồ. Điều ước ấy đã thành hiện thực khi lãnh đạo thành phố Đà Nẵng tạo điều kiện cho cô ra Hà Nội, vào Lăng viếng Bác. “Chừng đó thôi đã khiến cô mãn nguyện lắm rồi”.