Những tay cọ cuối cùng níu nghề xưa ở Bao Vinh
Từng tạo nên những tác phẩm hiện diện trong cung điện triều Nguyễn và không gian tín ngưỡng xứ Huế, nghề vẽ tranh gương (tranh kính/tranh kiếng), vẽ phù thượng lương bằng tay ở phố cổ Bao Vinh nay chỉ còn được gìn giữ bởi những người thợ cuối cùng.

Những kỹ nghệ độc lạ
Những ngày rong ruổi ở phố cổ Bao Vinh - nơi từng là thương cảng sầm uất của xứ Huế, tôi tìm gặp những người đang âm thầm gìn giữ nghề xưa. Điều thú vị là những nghề còn sót lại ở đây đều rất đặc biệt, từng gắn với đời sống cung đình hoặc tín ngưỡng truyền thống.
Nếu tranh gương từng hiện diện trang trọng trong các cung điện, lăng tẩm triều Nguyễn thì phù thượng lương lại gắn với nghi lễ dựng nhà, với quan niệm hài hòa âm dương, ngũ hành của người xưa. Hai nghề tưởng như khác biệt ấy lại gặp nhau ở một điểm, đó là đòi hỏi người thợ phải có sự am hiểu kỹ thuật, chữ nghĩa, cùng sự kiên nhẫn hiếm có.
Trong căn nhà nhỏ ở Bao Vinh, bà Trần Thị Minh Phụng, người vẽ tranh gương cuối cùng của dòng họ Trần ở phố cổ vẫn lưu giữ những dụng cụ, màu vẽ và các tác phẩm do chính mình thực hiện. Người phụ nữ tuổi ngoài 50 này là đời thứ 3 trong gia đình theo nghề, tiếp nối công việc mà ông nội từng gắn bó. Theo bà Phụng, ông nội bà là người gốc Hoa, đưa nghề tranh gương từ quê nhà sang Việt Nam. “Thời ấy, ngoài ông nội tôi còn có 2 người bạn cùng sang đây lập nghiệp với nghề tranh gương. Ông từng truyền nghề cho nhiều người nhưng rồi không ai theo được đến cùng”, bà kể.
Tranh gương Huế từng là một dòng mỹ thuật đặc biệt, gắn với không gian cung đình. Những bức tranh được thực hiện trên mặt sau của tấm kính, kết hợp giữa hội họa và kỹ thuật khảm, tạo nên một vẻ đẹp rất riêng.
Cũng tại phố cổ Bao Vinh, ông Lê Trường Huy (69 tuổi) lại âm thầm giữ một kỹ nghệ khác, đó là vẽ phù thượng lương bằng tay. Khác với kiểu thức in sẵn trên thị trường, mỗi lá phù của ông đều được thực hiện thủ công với hệ thống chữ Hán, màu sắc và biểu tượng ngũ hành.
Ông Huy cho rằng, nhiều người vẫn hiểu chưa đúng về phù thượng lương khi xem đây là một loại bùa chú. “Tôi luôn tách việc làm phù thượng lương khỏi những quan niệm mê tín. Tôi không xem bói, không hành nghề liên quan đến thầy pháp. Với tôi, lá phù này trước hết là một biểu tượng văn hóa, thể hiện sự cân bằng âm dương, sự hòa hợp của ngũ hành trong không gian sống”, ông chia sẻ.
Theo ông Huy, một lá phù hoàn chỉnh chứa nhiều lớp nghĩa. Trên cùng là dòng chữ “càn nguyên hanh lợi trinh”, ở giữa là vòng tròn âm dương, xung quanh là các yếu tố kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Mỗi màu trên lá phù cũng gửi gắm một quan niệm riêng: xanh là mộc, đỏ là hỏa, vàng là thổ, trắng là kim và đen là thủy. “Mỗi chữ đều có gốc tích. Tôi chỉ là hậu sinh, làm theo cái người xưa để lại. Làm sai là mang tội với người xưa”, ông Huy nói.
Nghề của khéo léo và trí nhớ
Điểm chung của những nghề họa ở Bao Vinh là mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự tỉ mỉ và chính xác, khiến không nhiều người đủ kiên nhẫn để gắn bó. Đằng sau mỗi tác phẩm không chỉ là thao tác của đôi tay mà còn là khả năng ghi nhớ, hình dung và sự am hiểu những quy tắc truyền đời.
Với tranh gương, cái khó trước hết nằm ở kỹ thuật “vẽ ngược”. Người thợ phải thao tác ở mặt sau của tấm kính nhưng lại phải hình dung chính xác hình ảnh khi nhìn từ mặt trước. Mọi nét vẽ đều cần sự dứt khoát, bởi sai một chi tiết rất khó sửa chữa.
“Tranh gương là loại tranh vẽ ngược, vẽ mặt trái nhưng nhìn ở mặt phải. Mọi thao tác đều diễn ra trực tiếp trên mặt kính. Nghề không có khuôn mẫu sẵn, người thợ phải tự chế công cụ, tự tìm phương pháp phù hợp với từng bức tranh”, bà Phụng nói.
Theo bà, mực dùng để vẽ tranh kính cũng không thể thay thế tùy tiện. Người thợ phải dùng mực xạ tàu dạng cục, đem mài ra để tạo độ bám và sắc độ phù hợp.
Ngoài kỹ thuật vẽ, công đoạn cẩn xà cừ trên kính cũng đòi hỏi nhiều kinh nghiệm. Những mảnh trai, vỏ ốc trước khi đưa lên tranh phải trải qua quá trình nung lửa để tạo màu sắc đặc biệt. Ngày trước, người thợ thường dùng lò trấu, đốt bằng tro trấu để giữ nhiệt ổn định, giúp xà cừ lên màu xanh, đỏ, tím, vàng óng ánh.
“Khó nhất là vẽ khuôn mặt người. Vì lối vẽ “phản họa” nên chỉ cần lệch tay một chút, khi lật lại gương mặt sẽ méo mó”, bà Phụng chia sẻ.
Trong nhiều năm theo nghề, bà Phụng đã thực hiện nhiều tác phẩm với các đề tài quen thuộc, như: phong cảnh, mai - lan - cúc - trúc, các tích truyện cổ… Đặc biệt, bộ tranh “Nhị thập tứ hiếu” là dòng tranh bà thực hiện nhiều nhất, bởi mỗi tích tuồng với nhiều ý nghĩa về đạo lý nên được khách ưa chuộng.
Bà nhớ như in giai đoạn 1995-1996, khi nghề tranh gương bước vào thời kỳ hưng thịnh nhất, khi đó, bà nhận đặt hàng tranh kính đề tài “Thúy Kiều”, sau đó được một nhà sưu tầm mua và đưa sang Pháp. “Đó là giai đoạn tranh gương được giao dịch bằng đô la”, bà Phụng nhớ lại.
Trong số những tác phẩm tâm đắc, bà vẫn nhớ bức tranh kích thước lớn dùng trang trí ở chiếu nghỉ cầu thang một ngôi nhà cổ tại Hội An, hay bức tranh đại bàng khổ lớn từng được đặt làm tranh lịch. Bà cũng còn lưu giữ nhiều bộ tranh quý như “Bát tiên”. Hiện nay, bà vẫn nhận được một số đơn đặt hàng từ nhà nghiên cứu, người sưu tầm. Một bộ tranh kính cỡ trung bình có giá khoảng 300-400 USD.

Còn với ông Huy, khó khăn của nghề vẽ phù không nằm ở vật liệu mà nằm ở tri thức phía sau từng nét chữ. Ông học chữ Hán - Nôm từ năm 1980 trong gia đình có truyền thống “làm và cho chữ”. Đến năm 2003, khi cha yếu dần, ông bắt đầu chuyên sâu vào nghề vẽ phù thượng lương.
Ngoài vẽ phù, ông còn viết hoành phi, tiểu phan, văn tế, bia mộ và đặt câu đối cho các nhà thờ họ. Theo ông, đặt câu đối còn khó hơn viết chữ bởi người viết phải hiểu được nguồn gốc dòng họ, không gian thờ tự và ý nghĩa từng chữ. “Viết thì có thể dựa vào những câu chữ có sẵn, còn đặt câu đối thì phải hiểu. Mỗi chữ tôi viết ra sau đó sẽ được người thợ chạm vào gỗ, nếu sai thì không thể sửa lại được”, ông nói.
Nỗi lo thiếu vắng truyền nhân
Điều khiến những người giữ nghề ở Bao Vinh day dứt nhất không phải là sự nhọc nhằn của công việc, mà là nỗi lo một ngày những kỹ nghệ từng gắn với đời sống văn hóa Huế sẽ chỉ còn tồn tại trong ký ức. Với bà Trần Thị Minh Phụng, mỗi bức tranh hoàn thành là một cách nối dài mạch nghề của gia đình qua 3 thế hệ. Bà luôn nhớ ông nội mình - ông Trần Minh Trạm (bút danh Trần Trạm), người từng kỳ công chế màu từ cỏ cây, hoa lá để vẽ tranh gương cho Đại Nội và lăng Tự Đức. Chính ký ức ấy trở thành động lực để bà tiếp tục cầm cọ, dù nghề nay không còn thời vàng son.

“Ngày trước ông tôi làm nghề bằng cả sự say mê. Những thứ tưởng như bình thường trong tự nhiên cũng được ông tìm tòi để tạo ra màu sắc riêng cho tranh. Nghề này, vì thế không chỉ cần đôi tay mà còn cần sự hiểu biết, sự nhẫn nại”, bà Phụng đúc kết.
Chính vì hiểu giá trị ấy nên dù nhiều năm qua, nghề tranh gương đi vào ngõ lụi tàn, bà vẫn chưa từng nghĩ đến việc dừng lại. Với bà, buông cọ cũng đồng nghĩa để nghề tranh gương của gia đình khép lại.
“Khó sống với nghề thật nhưng mình đã là đời thứ 3. Bỏ thì coi như mất hẳn mạch nghề của gia đình. Nếu tôi là đời cuối cùng theo nghề, điều tiếc nhất có lẽ là những kinh nghiệm tích lũy hàng trăm năm sẽ mất đi. Bởi có những thứ học bằng lời không hết được. Người sau phải ngồi cạnh người trước, nhìn cách họ pha màu, đặt nét cọ, rồi tự cảm nhận mà làm”.
Cùng nỗi niềm ấy, ông Lê Trường Huy cũng đang giữ một phần ký ức khác của Bao Vinh, đó là chữ Hán - Nôm và những nghi thức gắn với đời sống truyền thống. Ở tuổi gần 70 và hơn 20 năm qua duy trì công việc, ông Huy hiểu rằng sẽ rất khó tìm người kế nghiệp.
Ông bảo, dù trong gia đình vẫn có người biết chữ, biết nghề, nhưng để dành nhiều năm học hỏi, kiên nhẫn theo đuổi một công việc ít mang lại thu nhập ổn định là điều không dễ. “Tôi còn thì còn vẽ phù, còn đặt câu đối, còn viết Hán tự xưa… Tôi chỉ mong trước khi không còn làm được nữa, vẫn có người hiểu nghề, hiểu chữ, để những thứ ông cha để lại không bị mất đi”, ông Huy nói.
Những nghề xưa ở Bao Vinh vẫn còn đó nhưng chỉ hiện diện qua đôi tay của một vài người thợ cuối cùng. Bà Phụng, ông Huy tiếp tục công việc không phải vì nghề còn mang lại nhiều lợi ích, mà bởi họ không muốn những kỹ thuật được truyền lại qua nhiều thế hệ biến mất. Nhưng để những nghề ấy tiếp tục sống, chỉ sự cố gắng của vài cá nhân có lẽ vẫn chưa đủ.
Nghề cổ còn lại ở phố cổ
Điều đặc biệt là những nghề thủ công còn sót lại ở Huế hôm nay lại gắn với những khu phố cổ từng một thời sầm uất.
Ở Bao Vinh, vẫn có những người thợ cuối cùng cầm cọ vẽ tranh gương, viết phù thượng lương bằng tay...
Còn tại phố cổ Gia Hội, gia đình ông Đinh Bảo Ân vẫn giữ bí quyết làm thuốc nhuộm răng đen - một nghề từng gắn với quan niệm thẩm mỹ và tập quán sinh hoạt của người Huế xưa.
Từng có thời, thuốc xỉa, thuốc rỏi là vật dụng quen thuộc trong nhiều gia đình.
Để tạo nên hàm răng đen bóng như hạt nhãn, người xưa phải trải qua quy trình cầu kỳ, từ ngậm chua, làm khô răng trong nhiều ngày đến dùng thuốc nhuộm theo từng bước.
Còn người làm nghề phải nắm rõ đặc tính của từng nguyên liệu như thanh phàn, hắc phàn, ngũ bội tử và bí quyết phối trộn để tạo ra màu thuốc đặc trưng.
Cũng như nhiều nghề thủ công khác ở phố cổ, nghề làm thuốc nhuộm răng đen nay chỉ còn được lưu giữ bởi số ít người.
Với gia đình ông Đinh Bảo Ân, việc giữ lại công thức truyền đời không chỉ là bảo tồn một phương thuốc, mà còn là giữ lại dấu vết của một tập quán từng hiện diện trong đời sống xứ Huế.