Kể chuyện bản địa bằng hành trình du lịch
Quy hoạch phát triển du lịch Đà Nẵng tầm nhìn đến năm 2050 mở ra cách tiếp cận mới trong khai thác tài nguyên bản địa, với cấu trúc không gian “phố - làng - nóc” trải dài từ đô thị, vùng quê đến miền núi. Mỗi không gian mang sắc thái riêng về cảnh quan, văn hóa và đời sống cộng đồng, tạo dư địa để thành phố đa dạng hóa sản phẩm, hình thành những trải nghiệm đặc trưng và đưa bản sắc địa phương trở thành nguồn lực cho phát triển du lịch bền vững.
Khai phá lợi thế không gian

Ba tầng nấc đặc trưng
Quy hoạch phát triển du lịch Đà Nẵng tích hợp trong quy hoạch thành phố tầm nhìn đến năm 2050 đã phác thảo 5 vùng không gian du lịch trọng tâm. Thực tế, nếu theo hệ quy chiếu đặc trưng văn hóa, có thể gom thành 3 không gian rõ rệt là đô thị, nông thôn và miền núi.
Ông Lê Quốc Việt, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Điểm đến xứ Quảng (Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng) cho rằng, du lịch Đà Nẵng đang sở hữu 3 tầng điểm đến “phố - làng - nóc” với sự giao thoa, gắn kết về cả địa lý và văn hóa rất hiếm địa phương nào có được. Câu lạc bộ đang xây dựng sơ đồ tuyến điểm với nhiều trục xuất phát từ trung tâm thành phố Đà Nẵng và Hội An để kết nối cả 3 vùng không gian này với nhau, nhằm mở thêm dư địa phát triển cho du lịch địa phương, nhất là các điểm đến ở khu vực nông thôn và miền núi.
Là không gian đô thị trung tâm dịch vụ, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí và phân phối khách.
Không gian chuyển tiếp lưu giữ đời sống, nghề truyền thống và cảnh quan nông thôn xứ Quảng.
Các cộng đồng cư trú nhỏ, mở ra thế giới của đại ngàn Trường Sơn và văn hóa bản địa nguyên sơ.
Theo các chuyên gia du lịch, cách tiếp cận “phố - làng - nóc” có thể trở thành cách nhận diện không gian du lịch mới. Trong đó, “phố” là trung tâm dịch vụ, nghỉ dưỡng và giải trí; “làng” lưu giữ đời sống, nghề truyền thống, cảnh quan nông thôn hữu tình xứ Quảng; còn “nóc” là cách đồng bào miền núi gọi những cộng đồng cư trú nhỏ, mở ra thế giới của đại ngàn và văn hóa bản địa.
Nếu “phố” là nơi tập trung khách và “làng” là không gian chuyển tiếp, thì “nóc” có thể tạo ra lớp sản phẩm khác biệt nhất trong cấu trúc du lịch mới. Việc đưa khái niệm này vào tổ chức không gian du lịch không có nghĩa gom toàn bộ miền núi thành một sản phẩm chung, mà hướng đến khai thác đặc trưng của từng vùng trên nền tảng sinh thái rừng, văn hóa cộng đồng và đời sống bản địa.
lượt khách lưu trú đến Đà Nẵng trong năm 2025
Đà Nẵng “phố” là khu vực tập trung những lợi thế đã được thị trường nhận diện như: sân bay quốc tế, hệ thống lưu trú, nghỉ dưỡng, dịch vụ, vui chơi giải trí, biển và các đô thị du lịch. Khu vực trung tâm Đà Nẵng và Hội An tiếp tục đóng vai trò quan trọng đón và phân phối khách. Theo thống kê, năm 2025 Đà Nẵng đón hơn 17 triệu lượt khách lưu trú, nhưng hầu hết phân bổ tại “phố”. Do đó, “làng” và “nóc” chính là chất xúc tác tuyệt vời cần được khai mở mạnh mẽ hơn để kéo giãn và giữ chân du khách ở lại lâu hơn.

Để đánh thức tiềm năng này, các tuyến giao thông huyết mạch đóng vai trò then chốt. Cụ thể, quốc lộ 14G mở hành lang từ đô thị Đà Nẵng lên vùng núi Đông Giang, Tây Giang, nơi có không gian văn hóa Cơ Tu, các làng du lịch cộng đồng và hệ sinh thái rừng Trường Sơn. Quốc lộ 14D kết nối vùng Đại Lộc với Nam Giang, Vườn quốc gia Sông Thanh và tiếp cận đường Hồ Chí Minh. Đây là những trục có khả năng hình thành sản phẩm du lịch sinh thái, cộng đồng, trekking và khám phá văn hóa.
Bên cạnh đó, ở phía tây nam, quốc lộ 40B tạo hành lang kết nối đồng bằng lên vùng núi Trà My. Sự thay đổi từ đồng bằng, trung du đến vùng núi cao trong cùng một hành trình tạo điều kiện phát triển các sản phẩm gắn với rừng, thác, săn mây, ruộng bậc thang, văn hóa cộng đồng và đặc biệt là vùng dược liệu sâm, quế.
Các trục giao thông huyết mạch
Hành lang sinh thái Tây Bắc
Mở hành lang từ đô thị lên vùng núi Đông Giang, Tây Giang; khám phá không gian văn hóa Cơ Tu, làng du lịch cộng đồng và hệ sinh thái rừng Trường Sơn.
Kết nối Nam Giang
Trục kết nối vùng Đại Lộc với Nam Giang, Vườn quốc gia Sông Thanh và đường Hồ Chí Minh, phù hợp phát triển du lịch sinh thái, trekking.
Vùng dược liệu thiên nhiên
Tạo hành lang kết nối đồng bằng lên vùng núi Trà My, gắn liền với sản phẩm săn mây, ruộng bậc thang và vùng dược liệu sâm, quế đặc trưng.
Biến khoảng cách thành hành trình
Điểm đáng chú ý của không gian du lịch “phố - làng - nóc” là khả năng kết nối nhiều dạng địa hình trong một chuyến đi. Du khách có thể bắt đầu buổi sáng bên biển, trải nghiệm phố thị và di sản, sau đó di chuyển về làng hoặc lên miền núi. Với những cung đường này, các đơn vị lữ hành có thể hình thành những tour 3-5 ngày cùng nhiều trải nghiệm đặc sắc gắn với du lịch tái tạo, thay vì khách chỉ tập trung ở khu vực đô thị rồi nhanh chóng rời đi.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho hay, vừa qua đơn vị đã tổ chức 2 chuyến khảo sát xây dựng chương trình tour kết nối trung tâm thành phố với khu vực phía tây và phía nam. Ngay sau các đợt khảo sát, một số doanh nghiệp lữ hành đã chủ động xây dựng, quảng bá và tổ chức khai thác tour thử nghiệm, bước đầu được du khách đón nhận tích cực. Đây là cơ sở thuận lợi để tiếp tục hoàn thiện và đưa vào khai thác các sản phẩm du lịch mới; góp phần mở rộng không gian du lịch, gia tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu của khách và tạo sinh kế cho cộng đồng địa phương.
Theo ông Phạm Thanh Tùng, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế và du lịch nông nghiệp, xu thế du lịch chung đang dịch chuyển từ nông sang sâu, từ tham quan sang trải nghiệm, từ đô thị sang thiên nhiên và sinh thái. Khoảng 10-20 năm nữa, có thể sẽ diễn ra sự dịch chuyển lớn về lượng khách giữa các vùng không gian. Vì vậy, du lịch địa phương cần sớm có giải pháp để nắm bắt cơ hội, trong đó thách thức lớn nhất vẫn là việc hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối.
Để “phố - làng - nóc” thực sự trở thành không gian du lịch thống nhất, các chuyên gia và doanh nghiệp cho rằng bài toán không chỉ dừng lại ở việc xây dựng nhiều điểm đến. Thành phố cần định hình các tuyến kết nối rõ ràng, hoàn thiện bản đồ số, hệ thống thông tin và nhận diện điểm đến; đồng thời phát triển các trạm dừng chân, cơ sở lưu trú và sản phẩm đặc trưng ở những khu vực còn ít dịch vụ.
Quan trọng hơn, mỗi vùng không gian cần giữ được bản sắc riêng của mình. “Phố” tạo sức hút bằng chất lượng dịch vụ và tiện ích; “làng” níu chân khách bằng cảnh quan, di sản và đời sống nông thôn; còn “nóc” mang đến sự nguyên sơ của thiên nhiên và văn hóa cộng đồng miền núi. Khi 3 không gian này bổ trợ thay vì cạnh tranh hoặc sao chép lẫn nhau, Đà Nẵng cùng vùng phụ cận có cơ hội hình thành một hệ sinh thái du lịch đa dạng, trọn vẹn: từ phố ra biển, từ phố về làng và từ làng vươn lên những nóc nhỏ giữa đại ngàn Trường Sơn.
Để cộng đồng cùng hưởng lợi

Vài năm trước, một đoàn hơn 10 du khách nước ngoài được doanh nghiệp lữ hành ở Hội An kết nối lên làng Pơr’ning (xã Lăng cũ, nay là xã Tây Giang), để trải nghiệm đời sống đồng bào Cơ Tu. Dân làng chuẩn bị cơm truyền thống, sắp xếp chỗ nghỉ để khách ở lại qua đêm. Khi bữa cơm đang diễn ra, lực lượng biên phòng đến làm việc, phổ biến quy định đối với người nước ngoài khi vào khu vực biên giới đất liền. Do đoàn chưa hoàn tất thủ tục, chuyến trải nghiệm phải kết thúc sớm và khách rời khỏi khu vực ngay trong tối hôm đó.
Ông Pơloong Plênh, Phó trưởng Phòng Văn hóa xã Tây Giang nhớ lại, người dân khá ái ngại bởi đã chuẩn bị chu đáo để đón khách, nhưng yêu cầu quản lý khu vực biên giới phải được tuân thủ.
Câu chuyện ở Pơr’ning cho thấy bài toán quản lý du lịch cộng đồng tại Tây Giang gắn chặt với đặc điểm địa bàn. Địa phương có rừng nguyên sinh, khí hậu mát mẻ, quần thể pơmu ngàn năm tuổi cùng những làng Cơ Tu còn giữ gươl, nghề dệt thổ cẩm, lễ hội, ẩm thực và nếp sinh hoạt truyền thống. Những giá trị ấy hấp dẫn du khách muốn ở lại lâu, ăn cùng người dân và tham gia sinh hoạt cộng đồng. Khi sản phẩm đi sâu vào đời sống bản địa, công tác quản lý phải theo sát, từ lưu trú, an ninh, thủ tục dành cho khách nước ngoài đến trách nhiệm phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp lữ hành và người dân.
Mỗi điểm du lịch cộng đồng cần một cách quản lý phù hợp. Tây Giang có yêu cầu của vùng biên giới, nơi khác có thể là đất đai, xây dựng, môi trường hoặc an toàn cho khách. Nhận diện sớm những vấn đề này giúp địa phương hướng dẫn người dân và doanh nghiệp ngay từ đầu.
Từ kinh nghiệm Cẩm Thanh, ông Lê Văn Lý, Phó Chủ tịch UBND phường Hội An Đông cho biết, chính quyền địa phương đã tính chuyện khai thác cảnh quan sông nước và rừng dừa từ năm 2015, nhưng phải hơn 5 năm sau du lịch tại đây mới phát triển rõ nét. Quãng thời gian ấy dành cho việc tìm hướng khai thác, tổ chức dịch vụ, giữ cảnh quan và đưa người dân tham gia.

Ở làng cổ Lộc Yên (xã Thạnh Bình), vai trò quản lý thể hiện qua cách địa phương sắp xếp các giá trị sẵn có thành không gian du lịch chung. Nhà rường cổ, vườn cây trái, bờ rào đá, ẩm thực trung du và nếp sống cư dân đều có thể thành sản phẩm, nhưng từng hộ khó tự lo quy hoạch, hạ tầng, vệ sinh môi trường hay kết nối lữ hành. Chính quyền vì vậy đảm nhận phần việc nền tảng, đồng thời vận động người dân tham gia theo thế mạnh từng gia đình.
Ông Phan Hồng Phát, Phó Chủ tịch UBND xã Thạnh Bình cho biết, địa phương định hướng hộ có nhà cổ đón khách, hộ có vườn phát triển trải nghiệm hái quả, hộ nấu ăn phục vụ ẩm thực, những hộ khác bán sản vật hoặc làm dịch vụ phụ trợ.
Lễ hội làng cổ Lộc Yên năm 2026, dự kiến tổ chức ngày 29/8 tới cũng là một phần của quá trình hoàn thiện điểm đến. Nhà cổ, vườn cây, ẩm thực, sản phẩm OCOP và hoạt động dân gian cùng được giới thiệu, tạo dịp để các hộ phối hợp phục vụ khách. Với địa phương, sự kiện là dịp nhìn lại giao thông, vệ sinh, an ninh, điểm đón tiếp và liên kết dịch vụ để hoàn chỉnh cách vận hành.
Theo ông Văn Bá Sơn, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, ở phạm vi thành phố, cách quản lý cũng đi theo đặc điểm từng nơi. Tại Bãi Sậy Sông Đầm (phường Bàn Thạch), địa phương được yêu cầu tổ chức chèo thuyền theo luồng tuyến cố định, thống nhất giá dịch vụ, đăng ký số hiệu thuyền và xây dựng quy chế hoạt động. Với làng săn mây Tăk Pổ, xã Trà Tập, địa phương phải rà soát quy hoạch, đất đai, kiểm soát xây dựng, hoàn thiện hạ tầng và nghiên cứu tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để liên kết các hộ, chia sẻ lợi ích, nâng chất lượng phục vụ.
“Mỗi nơi có điều kiện khác nhau nên quản lý phải đi sát thực tế, giải quyết sớm những vấn đề phát sinh. Khi khuôn khổ vận hành đủ rõ, người dân có cơ sở đầu tư, doanh nghiệp thuận lợi xây tour, điểm đến có điều kiện giữ tài nguyên, bản sắc và tạo sinh kế lâu dài”, ông Sơn nói.
Đánh thức tài nguyên bản địa
Những sản phẩm không chỉ tạo sự đa dạng trải nghiệm, mở rộng không gian khám phá, kéo dài thời gian lưu trú mà còn giúp đưa những giá trị bản địa trở thành điểm nhấn thu hút khách.

“Chạm” vào văn hóa bản địa
Ông Luke, du khách người Úc liên tục bấm máy ảnh trước hoạt động trình diễn vãi chài trên dòng sông Cổ Cò (phường Hội An Tây). Với ông, những hình ảnh trên khá lạ lẫm và thú vị. “Một hoạt động mưu sinh độc đáo và nhiều sắc màu. Tôi thật sự bất ngờ và hạnh phúc khi được trải nghiệm không khí này”, ông Luke chia sẻ.
Đến Đà Nẵng gần một tuần trước, ông Luke chọn phường Hội An Tây làm nơi lưu trú với mong muốn khám phá sâu hơn những giá trị văn hóa, cảnh quan và đời sống cộng đồng trên vùng đất di sản. Trải nghiệm của ông Luke phần nào cho thấy sức hấp dẫn của những sản phẩm du lịch được tạo dựng từ đời sống bản địa.
Từ cuối tháng 7, nhiều lễ hội văn hóa liên tiếp diễn ra trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với không gian trải rộng từ biển, đảo đến vùng sông nước và miền núi. Đáng chú ý, các lễ hội không chỉ biểu diễn, vui chơi mà còn kể câu chuyện về đời sống văn hóa cộng đồng địa phương.
Tại Lễ hội sông Cổ Cò diễn ra mới đây, dòng sông đã trở thành điểm hẹn văn hóa, nơi du khách được quan sát, trải nghiệm những hoạt động gắn với đời sống người dân như kéo lưới, vãi chài, thưởng thức hô hát bài chòi bên bến nước. Từ đó, giúp người xem hình dung rõ hơn về đời sống và chiều sâu văn hóa của vùng đất.
Tương tự, Lễ hội mùa hoa ngô đồng đỏ Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp), Lễ hội làng chài Tân Thành (phường Hội An Tây) và Ngày hội văn hóa Cơ Tu xã Tây Giang mới đây mở ra không gian trải nghiệm đa dạng. Nơi đây, du khách vừa được hòa mình vào cảnh sắc thiên nhiên vừa được “chạm” vào từng giá trị văn hóa trao truyền qua nhiều thế hệ, từ nghệ thuật trình diễn, không gian sinh hoạt cộng đồng đến nghề thủ công, trang phục, ẩm thực truyền thống…
Việc tổ chức các lễ hội văn hóa là cách quảng bá, giới thiệu tài nguyên bản địa đến du khách, đồng thời tạo động lực để cộng đồng quan tâm hơn đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị vốn có.
Thực tế cho thấy, du khách ngày càng có xu hướng tìm kiếm những trải nghiệm chân thực gắn với đời sống, văn hóa địa phương được bảo tồn trong chính không gian sinh động. Ông Nguyễn Sơn Thủy, Giám đốc Công ty TNHH Visit Indochina cho rằng, trong bối cảnh du khách ngày càng quan tâm đến các giá trị văn hóa bản địa và những hoạt động trực tiếp, việc xây dựng các sản phẩm “chạm về nguyên bản” cũng chính là cách mang đến những trải nghiệm chân thực cho khách thay vì các chương trình tham quan thông thường.
“Khi một sản phẩm hoặc điểm đến cho phép du khách trực tiếp tiếp cận văn hóa và nhịp sống bản địa, giá trị mang lại không chỉ nằm ở sự hài lòng mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa hình ảnh điểm đến. Đây cũng là lợi thế mà Đà Nẵng cần khai thác”, ông Thủy nói.

Sản phẩm du lịch từ tài nguyên văn hóa
Với lợi thế về biển, sông, đô thị, nghỉ dưỡng cùng hệ thống di sản, làng quê, làng nghề và không gian văn hóa đa dạng, việc Đà Nẵng xây dựng chuỗi sản phẩm khác biệt, mang tính bền vững là điều hoàn toàn có thể.
Theo ông Nguyễn Trọng Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Du lịch Hội An DMC, nếu mỗi sản phẩm kể được câu chuyện văn hóa sẽ là cách tốt nhất “chạm” vào cảm xúc du khách. Nhất là trong bối cảnh cạnh tranh giữa các điểm đến ngày càng gay gắt, việc tạo ra những sản phẩm khác biệt từ tài nguyên bản địa càng trở nên cần thiết.
“Đà Nẵng không nhất thiết đi tìm kiếm những sản phẩm đâu xa, quan trọng là nhận diện đúng giá trị đang có, tổ chức lại theo hướng chuyên nghiệp và kể được câu chuyện hấp dẫn về vùng đất”, ông Tuấn phân tích. Điều này đã và đang được DMC chứng minh qua việc làm mới các sản phẩm trải nghiệm tại làng rau Trà Quế và những làng quê, ruộng đồng xứ Quảng.
Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, khai thác tài nguyên bản địa phải đặt trong tổng thể phát triển du lịch bền vững. Trong đó, yếu tố bảo tồn văn hóa, bảo vệ cảnh quan và bảo đảm lợi ích của cộng đồng cần đứng song hành với mục tiêu thu hút khách.
Đặc biệt, cộng đồng phải được hưởng lợi trực tiếp từ du lịch. Khi người dân có thêm thu nhập từ dịch vụ lưu trú, ẩm thực, hướng dẫn, bán sản phẩm thủ công hoặc tham gia các hoạt động trải nghiệm, họ sẽ có động lực và trách nhiệm giữ gìn cảnh quan, văn hóa địa phương.
Ông Trần Quý Tấn, Trưởng phòng Quản lý lữ hành (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thông tin, đơn vị đang xây dựng kế hoạch rà soát hệ thống tài nguyên, hướng đến thực hiện bản đồ tài nguyên du lịch trên địa bàn thành phố. Đồng thời triển khai xây dựng đề án phát triển du lịch cộng đồng với khoảng 12 điểm đến tiềm năng được lựa chọn nhằm tạo cơ sở thúc đẩy đầu tư giai đoạn 2026 - 2030. Dự kiến, tháng 12/2026 đề án sẽ được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình UBND thành phố xem xét, phân bổ nguồn lực.
Thực tế cho thấy, nếu biển và đô thị là thế mạnh thu hút du khách đến Đà Nẵng thì văn hóa, cộng đồng, làng quê, sông nước được kỳ vọng trở thành yếu tố giữ chân du khách lâu hơn. Đây cũng sẽ là “cánh cửa” mở vào hệ tài nguyên bản địa phong phú của thành phố để kể câu chuyện của mình bằng chính cảnh quan, văn hóa và đời sống cộng đồng.
Từ đó, mỗi hành trình của du khách không chỉ là một chuyến tham quan mà là cơ hội “chạm về nguyên bản”, cảm nhận sâu hơn bản sắc văn hóa vùng đất và con người xứ Quảng.