Người xứ Quảng

Nhớ về anh hùng huyền thoại Alăng Bhuốch

PƠLOONG PLÊNH 16/08/2026 09:10

ĐNCT - Với Alăng Bhuốch, bóng tối bao trùm đôi mắt từ tuổi thơ không làm ông gục ngã, mà ngược lại, trả lại cho ông một giác quan kỳ diệu: Sự thấu cảm sâu sắc với đất trời, núi rừng, sông suối - nơi đã sản sinh ra ông.

Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí A Lăng Bhuôch vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ảnh: Tư liệu

Huyền thoại bước ra từ bóng tối

Năm 2003. Tây Giang ngày ấy như một đứa trẻ vừa tách ra khỏi cái ôm rộng lớn của huyện Hiên cũ, chập chững đứng lên giữa miền ngàn mây. Sương mù đặc quánh như dòng sữa đại ngàn cuộn chảy qua từng mái nhà sàn nơi làng Azứt, xã Bhalêê (xứ đất mà người xưa vẫn quen gọi, nay thuộc xã A Vương). Cây rừng còn rớm nhựa sau những ngày mở đường, và nhịp sống miền cao thời điểm ấy mỏng manh như vạt mây chiều đậu trên vách đá.

Cuối năm 2012, tôi có dịp về lại làng Azứt khi heo may manh nha gõ cửa núi. Chiếc cối giã gạo bên hiên nhà sàn ngân vang nhịp điệu muôn đời của người Cơ Tu, và dưới thung lũng, dòng sông Chơrlang rì rầm hiền hòa. Nơi ấy, trong căn nhà sàn gỗ thẫm màu thời gian, tôi đã gặp ông ALăng Bhuốch - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, lúc đó ông đang chơi đàn Abel, một loại nhạc cụ bằng cây giang, như đàn nhị cùa người Kinh, nói lên tâm tình của trai gái quê tôi.

Nhưng trước mặt tôi không phải là một vị anh hùng xa lạ bước ra từ trang sử sách cứng nhắc, mà là một già làng Cơ Tu hiền như cây rừng Trường Sơn. Ông ngồi đó, đôi mắt đã khép lại vĩnh viễn từ tấm bé, nhưng gương mặt lại tỏa ra thứ ánh sáng kỳ lạ, thứ ánh sáng không gặt hái từ đôi mắt, mà nảy mầm từ tâm hồn người yêu núi, yêu rừng sống một đời cho Tổ quốc.

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian khổ nhất, ông là một huyền thoại có một không hai của mảnh đất hình chữ S này. Một người hùng dù mù cả hai mắt vẫn kiên cường bám tuyến đường Trường Sơn, tải đạn, vượt qua những cơn mưa bom bão đạn của kẻ thù. Bóng tối dưới chân ông biến thành lối đi, tiếng gió lùa qua kẽ lá biến thành bản đồ chỉ đường.

Alăng Bhuốch sinh năm 1931, năm lên 9 tuổi, hai mắt không may bị đau kéo dài khiến ông vĩnh viễn không nhìn thấy ánh sáng. Năm 1958, Huyện ủy Tây Giang phát động phong trào tham gia dân công vận chuyển lương thực, thực phẩm, tải đạn phục vụ bộ đội và du kích đánh giặc. Bị mù nhưng ông vẫn quyết tâm và tình nguyện tham gia.

Địa bàn phía tây Quảng Nam giáp với nước bạn Lào, rừng sâu, núi cao, vực sâu, hiểm trở, đi lại rất khó khăn, ông đã sáng tạo khi sử dụng ống đựng đạn (ống sắt dùng đựng ngòi, liều đạn pháo) để gùi lương thực, thực phẩm và đạn dược phục vụ các đơn vị trên địa bàn huyện Tây Giang. Với chiếc ống đựng đạn và cây gậy dò đường, quá trình vận chuyển, dù liên tục vấp ngã, qua sông, qua suối từng bị nước cuốn trôi nhưng ông không hề nản chí. Mỗi ngày Alăng Bhuốch gùi từ 30 đến 50kg hàng hóa, đạn dược các loại.

Từ năm 1958 đến 1972, Alăng Bhuốch đã vận chuyển được 182 tấn hàng hóa, trong đó có 120 tấn vũ khí và 62 tấn hàng hóa, lương thực, thực phẩm. Năm 1973, thấy Alăng Bhuốch thông thạo đường sá trên địa bàn, đơn vị đã giao cho vận chuyển vũ khí đến các đơn vị xa hàng chục km trong đường rừng.

Giai đoạn 1973-1975, mỗi ngày Alăng Bhuốch gùi 50-80kg vũ khí đến khu vực giáp biên giới nước bạn Lào, phục vụ bộ đội đánh giặc. Với những người khỏe mạnh bình thường, việc gùi hàng, tải đạn vượt qua núi cao, vực sâu, sông suối hiểm trở, trong điều kiện chiến tranh ác liệt đã vô cùng khó khăn.

Bằng ý chí, nghị lực phi thường, tinh thần yêu nước mãnh liệt, Alăng Bhuốch đã băng băng giữa đại ngàn Trường Sơn vận chuyển hàng trăm tấn vũ khí, đạn dược. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngày 26/7/2012, Alăng Bhuốch được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Hòa bình lặp lại, giặc tan, ông từ khói lửa trở về với dòng Chơrlang hiền hòa.

Tôi còn nhớ mãi cái nắm tay ấm áp, rám nắng và chai sạn của ông năm ấy. Chiếc điếu cày rít lên từng hồi thong thả, ông kể về những ngày tay không mò mẫm dọc dòng sông Chơrlang. Không nhìn thấy ánh mặt trời, ông dùng đôi chân để đo độ dốc, dùng đôi tay rà từng viên đá, lắng nghe tiếng nước chảy để "bắt" con nước ngọt từ khe núi cao về làng đào ao nuôi cá, khai hoang trồng lúa nước.

"Cái mắt không thấy thì cái tai nó nghe, cái chân nó bước, cái lòng mình nó chỉ đường thôi mà..." - Ông cười, nụ cười hiền hậu làm rung rinh cả vạt nắng chiều rọi qua kẽ vách.

Tự tay ông đào mương, dẫn nước khai hoang những thửa ruộng lúa nước đầu tiên vùng cao đất Hiên này, tự tay dựng chuồng nuôi gà, vịt. Dưới bàn tay của người anh hùng mù, màu xanh của sự sống phủ lên từng khoảng đất trống, ông nói: “Trồng lúa nước để giữ rừng, chúng ta không thể cứ phá rừng già miết để làm nương rẫy cháu ạ, có ngày rừng sẽ không còn, rừng là bình phong giữ làng, giữ đất nước...”.

Ngày ấy bên dòng Chơrlang, dưới mái nhà sàn của ông, tôi say tiếng gà gáy trưa hè, tiếng lúa đồng reo trong gió hòa cùng tiếng nước chảy như bản trường ca bất tận về sức sống kiên cường của người con đại ngàn Trường Sơn.

Ông Alăng Bhuôch (giữa) trong một lần gặp Bí thư Thảnh ủy Thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải. Ảnh: Tư liệu

Giai điệu tri ân

Mối duyên giữa tôi và người anh hùng ấy không chỉ dừng lại ở cuộc gặp gỡ đầu tiên năm 2012. Sợi dây âm thanh và lòng biết ơn cứ âm thầm nối dài theo năm tháng.

Năm 2014, khi đang công tác tại Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Tây Giang, tỉnh Quảng Nam cũ, tôi cùng các đồng nghiệp trải qua những ngày tháng không thể nào quên. Ngày ấy, để mang tiếng ca đi phục vụ bà con vùng cao, chúng tôi phải vác balô, đi bộ băng rừng hàng chục cây số. Những chuyến đi gian khổ về tận các bản làng giáp biên giới như Cha-nóc, Atu, hay xuôi về làng Ađâu, Zơlao, Aur, Azứt... Trong một chiều nghỉ giải lao giữa buổi tập văn nghệ để chuẩn bị cho chuyến lưu diễn về các làng biên giới xa xôi giáp Lào, tôi tình cờ đọc được bài thơ viết về Anh hùng Alăng Bhuốch của tác giả, nhà văn Nguyễn Cứ, bài thơ Người lính Trường Sơn trong Tuyển tập thơ nhiều tác giả (NXB Đà Nẵng, 2013).

Những vần thơ bình dị nhưng cuồn cuộn chất khí thiêng của núi rừng đã chạm thẳng vào tâm thức tôi. Như có sự đồng cảm mãnh liệt bùng cháy, chưa đầy 10 phút sau, tôi đã cất lên những nốt nhạc đầu tiên, hoàn thành việc phổ nhạc cho bài thơ, tôi nhớ lúc đó, nhờ em Bling Hùng cùng cơ quan đệm đàn, khi hát đoạn điệm khúc cảm xúc dâng lên khó tả. Trong lòng tôi lúc ấy trào dâng một ước mơ cháy bỏng: Phải mau chóng thu âm, ghi hình bài hát này thật chỉn chu để mang về tận căn nhà sàn bên sông Chơrlang trao tặng ông Bhuốch.

Nhưng cuộc đời lắm khi dở dang những dự định. Giữa lúc bản nhạc còn ngập ngừng trên trang giấy vì thiếu kinh phí, núi ngàn này ấy chưa có phòng thu âm, thì năm 2015, ông Alăng Bhuốch đã lặng lẽ "bay" về với Yàng, về với cánh rừng thiêng cùng những đồng đội năm xưa. Bản nhạc chưa kịp hát cho ông nghe trở thành một khoảng trống mênh mang, một món nợ tình cảm nặng trĩu trong lòng tôi.

Mùa hè năm 2016, ê-kíp của Đài Truyền hình Quốc phòng tìm về Tây Giang. Biết đến ca khúc tôi viết về người anh hùng mù, họ đã thực hiện một buổi phỏng vấn và ghi hình bên dòng sông Chơrlang, nơi gần nhà sàn và ngôi mộ của ông.

Tôi đứng đó, giữa mênh mông sông nước Chơrlang lấp loáng nắng vàng, cất tiếng hát từ đáy tâm vọng vào vách đá, núi ngàn Trường Sơn. Tiếng hát như lời tự tình gửi tới người đã khuất. Sau này, đã tìm kiếm rất nhiều lần trên các nền tảng mạng xã hội nhưng tôi không thấy thước phim ấy được đăng tải lại, tuy nhiên cảm giác nghẹn ngào của buổi chiều thu hình bên dòng sông hôm ấy vẫn vẹn nguyên trong ký ức tôi. Đến nay, sau nhiều lần gọt giũa và trau chuốt từng nốt nhạc, tôi mới chính thức hoàn thiện trọn vẹn ca khúc.

Ngay khi bản nhạc hoàn thành, tôi tìm về căn nhà cũ, ghé thăm thân nhân của ông Alăng Bhuốch; trao tận tay người nhà ông bản ghi âm hoàn chỉnh và bản nhạc.

Tiếng đàn Cơ Tu tài hoa

Những ngày đầu tháng Tám, khi hoàng hôn bắt đầu buông vệt màu tím thẫm xuống dòng Chơrlang, tôi ghé thăm nhà nghệ nhân Hốih Apla - người cùng xã Bhalêê cũ với ông Bhuốch và là người duy nhất ở vùng này còn nắm giữ bí quyết chế tác các loại nhạc cụ truyền thống của người Cơ Tu.

Bên bếp lửa hồng ấm áp và chén trà đậm vị núi rừng, tôi cùng già Apla nhắc lại những kỷ niệm về anh hùng Alăng Bhuốch. Nhấp một ngụm trà thơm, già Apla mỉm cười, ánh mắt lấp lánh hoài niệm:

"Anh Bhuốch không chỉ có nghị lực và ý chí phi thường qua việc tham gia phục vụ cách mạng, tải đạn ra chiến trường ác liệt nhất lúc bấy giờ, anh còn là người tiên phong làm kinh tế vườn, ao, chuồng, trồng lúa nước. Hơn nữa, anh ấy còn tài hoa lắm! Dù không nhìn thấy đường, nhưng tay anh có thể chế tác nhạc cụ Cơ Tu cực kỳ giỏi, từ Abel đến Tâmbhreéh, Tơrhoong... Anh cất tiếng đàn lên là rừng núi cũng phải lắng nghe".

Lời già Apla tan vào tiếng sóng Chơrlang vỗ gềnh đá. Hóa ra, đằng sau một hình ảnh anh hùng kiên trung trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại năm xưa, đằng sau một lão nông dẻo dai tự tay đào mương dẫn nước, còn có một tâm hồn nghệ sĩ đích thực. Người đàn ông ấy đã dùng chính những giai điệu tự tay mình tạo ra để thắp sáng bóng tối đời mình.

Giờ đây, Anh hùng Alăng Bhuốch đã yên nghỉ bên cung đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Ngôi mộ của ông nằm đó, lưng tựa vào vách đá đại ngàn Trường Sơn, mặt hướng về con đường mà năm xưa chính ông và hàng vạn chiến sĩ đã hiến dâng tuổi trẻ để giữ vững mạch máu giao thông cho ngày thống nhất đất nước.

Đó là ước nguyện sâu thẳm của ông trước lúc đi xa. Ông không chọn nằm ở những nghĩa trang, ông muốn về lại với đất Mẹ Trường Sơn. Ông muốn nằm gần các đồng chí, đồng đội năm xưa đã ngã xuống, để cùng nghe tiếng xe qua, nghe nhịp thở của núi rừng, và nghe tiếng bước chân của những thế hệ mai sau đang vững bước trên tuyến đường mòn mang tên Bác.

Đã hơn hai mươi năm trôi qua kể từ lần đầu tiên tôi gặp ông nơi làng Azứt năm nào. Dòng Chơrlang vẫn xanh trong ngày đêm thì thầm câu chuyện cũ, đường Trường Sơn nay đã thênh thang rợp bóng cờ hoa, xanh ngát rừng cây, phủ lấp xanh hố bom mìn năm xưa.

Alăng Bhuốch đã đi xa, nhưng tiếng đàn Cơ Tu tài hoa, dòng nước ngọt ông mò mẫm dẫn về làng và giai điệu tri ân bên bờ sông Chơrlang ngày ấy vẫn sẽ còn vang vọng mãi. Ông vẫn ở đó - như bóng cây Kaghiêr vĩ đại của đại ngàn.

PƠLOONG PLÊNH