Theo bước chân người Quảng

Bảo vệ danh thắng Ngũ Hành Sơn năm 1961

VÕ HÀ 16/08/2026 10:00

ĐNCT - Danh thắng Ngũ Hành Sơn (núi Non Nước) từng đứng trước những nguy cơ xâm hại nghiêm trọng do làn sóng khai thác đá tự phát và xây dựng trái phép trong giai đoạn lịch sử trước đây.

picture1(2).jpg
Ngũ Hành Sơn trước năm 1975. Ảnh: Tư liệu

Trong đó, sự kiện ngăn chặn tình trạng khai thác đá lậu, xây dựng trái phép tại Ngũ Hành Sơn vào giai đoạn cuối năm 1961 - giữa năm 1962 chính là minh họa sống động.

Thực trạng bảo vệ Ngũ Hành Sơn trước năm 1961

Trước năm 1961, hành lang pháp lý căn bản nhất để bảo vệ Ngũ Hành Sơn là Nghị định ngày 11/7/1925 của Toàn quyền Đông Dương về việc phân hạng, bảo tồn và bảo vệ cổ tích lịch sử. Điều 12 của nghị định này quy định: “Mọi công trình xây mới tựa lưng vào bất động sản đã được xếp hạng mà không có giấy phép đều phải bị dỡ bỏ và người xây dựng phải chịu toàn bộ chi phí”. Về mặt quản trị thực địa, từ cuối năm 1956, Tòa Đại biểu Chính phủ tại Trung Nguyên Trung Phần đã ủy thác việc trông nom thắng cảnh và các ngôi “Quốc tự” (như chùa Tam Thai, chùa Linh Ứng) cho Giáo hội Tăng già Trung Phần.

Tuy nhiên, trong những năm 1956-1961 tình hình thực tế diễn biến phức tạp. Nhóm dân cư xung quanh và tư nhân liên tục phá núi lấy đá, tự ý cất nhà sát chân núi làm biến dạng cảnh quan. Khi Ban Quản trị Phật giáo ngăn chặn, các đối tượng vi phạm thường tuyên bố họ “khai thác cho Chính phủ” để hợp thức hóa hành vi.

Sự bất cập này bắt nguồn từ lỗ hổng lớn ở cấp quản lý cơ sở thời bấy giờ. Giáo hội Phật giáo địa phương đã nhiều lần gửi văn thư báo cáo lên Tỉnh đường Quảng Nam nhưng không nhận được phản hồi. Phúc trình số 6.442-HC/2 ngày 24/5/1962 của Tòa hành chánh tỉnh Quảng Nam, Tỉnh trưởng Quảng Nam lúc đó là Thiếu tá Vũ Hữu Thu đã xác nhận sự thất bại của hệ thống kiểm soát tại chỗ: Hội đồng xã Hòa Long có ý che chở việc đập đá làm granito để thu lợi ngầm và nhân viên Thanh niên xã được sung vào Tiểu ban Kiểm soát cũng lơ là, không báo cáo kịp thời sai phạm.

Tiến trình can thiệp đa phương và xung đột thẩm quyền

Cuộc khủng hoảng tại Ngũ Hành Sơn bùng phát thành một sự kiện mang quy mô lớn khi có sự can thiệp từ các tổ chức tôn giáo cấp cao vào cuối năm 1961.

Ngày 26/9/1961, Thượng tọa Thích Mật Nguyện (Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già Trung Phần) gửi Công văn số 013-GH/TP từ Huế vào Sài Gòn. Từ đó, ngày 3/10/1961, Văn phòng Thường trực Tổng hội Phật giáo Việt Nam tại chùa Xá Lợi gửi Văn thư số 119/THPG/HC đến Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục yêu cầu can thiệp khẩn cấp.

Ngày 20/10/1961, Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục có Văn thư số 54626-UD/PG/3 gửi Bộ trưởng Bộ Nội vụ, yêu cầu phối hợp ban hành biện pháp thích ứng để đình chỉ ngay việc khai thác đá lậu tại Ngũ Hành Sơn. Hồ sơ sau đó tiếp tục được chuyển giao sang Bộ Công chánh và Giao thông.

Trên thực tế, việc khai thác đá núi Thủy Sơn thực chất có sự tham gia của các đơn vị lớn như Sư đoàn 2 Việt Nam cộng hòa (thuê thợ đục đá làm tượng Ngô Đình Diệm) và các Linh mục Kitô giáo tại Đà Nẵng, Quy Nhơn (thuê thợ làm bàn thờ đá cho các Thánh đường). Thợ đá đã lợi dụng danh nghĩa này để khai thác tự do; điển hình là việc đập vỡ 4 khối đá lớn kích thước 3 x 2 x 2m tại Thủy Sơn rồi bỏ mặc do đá quá cứng.

Nhận diện điều này, Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã đề nghị đưa vấn đề này vào chương trình nghị sự, buộc chính quyền đương thời phải lập tức hạ lệnh đóng băng việc khai thác.

Các biện pháp thực thi

Trước áp lực từ Sài Gòn, Tỉnh trưởng Quảng Nam ra quyết định thành lập “Ủy ban Bảo vệ thắng cảnh Ngũ Hành Sơn” do Quận trưởng quận Hòa Vang làm Chủ tịch, phối hợp cùng các Ty Công chánh, Ty Kiến thiết và đại diện Phật giáo (Thích Trí Giác, Trụ trì Chùa Tam Thai).

Chính quyền điều động một “Tiểu ban Kiểm soát” cắm chốt 24/24 giờ tại chân núi để bắt giữ thợ đá lậu và dẫn giải về Quận xử lý. Các biện pháp kỹ thuật thực địa được áp dụng nghiêm ngặt bao gồm: Chỉ thị cho Hội đồng xã Hòa Long giăng dây thép gai cô lập những chỗ đã có dấu vết khai thác ở hòn Thủy Sơn. Cử nhân viên Ty Công chánh dùng sơn gạch dấu thực địa và viết chữ “CẤM LẤY ĐÁ” để phát hiện vết đục mới. Buộc Ty Kiến thiết đến tại chỗ họa đồ vị trí toàn bộ những ngôi nhà hiện hữu nhằm giữ nguyên trạng, ngăn chặn việc cơi nới, cất nhà trái phép quanh chân núi.

Tuy nhiên, do lệnh cấm đột ngột đã ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân địa phương. Tại phiên họp ngày 6/11/1961, số lượng sản phẩm tồn đọng của các thợ đá lên tới 610 bao đá granito và 150 tấm bia. Để giải quyết bài toán này, Ủy ban Bảo vệ đã đưa ra quyết nghị: Cho phép quận Hòa Vang lập tờ trình xin tỉnh giải tỏa đặc cách, cho phép tiêu thụ nốt số đá tồn kho để bảo vệ quyền lợi kinh tế của dân nghèo.

Ngược lại, đối với các hợp đồng của quân đội và các giáo phận, Tỉnh trưởng áp đặt mốc thời gian từ 4 đến 10 ngày để thợ đá di chuyển các khối đá đã lỡ khai thác ra khỏi núi, nghiêm cấm đục thêm khối mới.

Chiến dịch bảo vệ Ngũ Hành Sơn giai đoạn 1961-1962 đã mang lại kết quả trong ngắn hạn. Đến cuối năm 1962, các báo cáo chính thức của Trưởng Khu Công chánh và Tỉnh trưởng Quảng Nam gửi về Trung ương đều xác nhận tình trạng khai thác đá lậu đã tạm thời được chấm dứt, khu vực danh thắng được phong tỏa và bảo vệ theo đúng quy định hành chính thời bấy giờ.

VÕ HÀ