Văn hóa

Để tuồng đi cùng đời sống đương đại

VĨNH LỘC - GIA KHANG - KHÁNH LINH

Nghệ thuật tuồng là một trong những loại hình sân khấu truyền thống tiêu biểu của Việt Nam. Tuy nhiên, trước những thay đổi trong nhu cầu, thị hiếu hưởng thụ văn hóa của công chúng, tuồng đang đứng trước không ít thách thức. Công tác bảo tồn tuồng không chỉ dừng ở việc gìn giữ những giá trị vốn có, mà cần tìm cách để nghệ thuật truyền thống thích ứng đời sống đương đại, thu hút công chúng và mở rộng không gian phát triển.

Văn hóa

Để tuồng đi cùng
đời sống đương đại

VĨNH LỘC - GIA KHANG - KHÁNH LINH

Nghệ thuật tuồng là một trong những loại hình sân khấu truyền thống tiêu biểu của Việt Nam. Tuy nhiên, trước những thay đổi trong nhu cầu, thị hiếu hưởng thụ văn hóa của công chúng, tuồng đang đứng trước không ít thách thức. Công tác bảo tồn tuồng không chỉ dừng ở việc gìn giữ những giá trị vốn có, mà cần tìm cách để nghệ thuật truyền thống thích ứng đời sống đương đại, thu hút công chúng và mở rộng không gian phát triển.

Di sản văn hóa xứ Quảng

Dù không phải là chiếc nôi của tuồng nhưng vùng đất xứ Quảng đã sản sinh ra những tài năng và có nhiều đóng góp cho lịch sử phát triển loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống này.

Ngày 8/6/2015, nghệ thuật tuồng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, khẳng định giá trị của loại hình nghệ thuật truyền thống này trong đời sống văn hóa dân tộc.

Dấu ấn tuồng xứ Quảng

Nhắc đến tuồng xứ Quảng không thể bỏ qua cái tên Nguyễn Hiển Dĩnh (1853 - 1926). Ông là người nổi tiếng mê tuồng với trên 20 sáng tác phản ánh chân thực xã hội nông thôn Việt Nam thời thực dân, phong kiến. Năm 1907, Nguyễn Hiển Dĩnh rời quan trường về quê dựng rạp hát, đào tạo nhiều diễn viên xuất sắc, tiêu biểu là 5 người được triều đình nhà Nguyễn phong danh hiệu Ngũ Mỹ gồm: Nguyễn Nho Túy (vai kép), Chánh Đệ (vai tướng), Chánh Phẩm (vai lão), Văn Phước Khôi (vai hề), Nguyễn Lai (vai nịnh). Đây cũng là những người góp phần xác lập vị trí đáng kể của tuồng trong đời sống văn hóa xứ Quảng.

Bên cạnh tiếp thu tinh hoa nghệ thuật tuồng cung đình, tuồng Đà Nẵng cũng phản ánh đậm nét tính cách con người xứ Quảng. Ảnh: Nhà hát tuồng
Bên cạnh tiếp thu tinh hoa nghệ thuật tuồng cung đình, tuồng Đà Nẵng cũng phản ánh đậm nét tính cách con người xứ Quảng. Ảnh: Nhà hát tuồng

Theo nhiều nhà nghiên cứu, mặc dù Đà Nẵng không phải là chiếc nôi của nghệ thuật tuồng, nhưng người dân rất thích nghệ thuật truyền thống này. Đặc biệt, bên cạnh tiếp thu tinh hoa nghệ thuật tuồng cung đình, tuồng Đà Nẵng cũng phản ánh đậm nét tính cách con người xứ Quảng cương trực, nghĩa khí, trọng đạo lý, giàu lòng yêu nước và ý chí vượt khó. Những phẩm chất ấy được thể hiện rõ qua hệ thống nhân vật, nội dung tư tưởng cũng như phong cách biểu diễn…

1853 - 1926
Danh nhân Nguyễn Hiển Dĩnh sống và cống hiến cho nghệ thuật tuồng.
Năm 1907
Ông rời quan trường về quê dựng rạp hát, đào tạo 5 diễn viên xuất sắc được triều đình nhà Nguyễn phong danh hiệu Ngũ Mỹ (Nguyễn Nho Túy, Chánh Đệ, Chánh Phẩm, Văn Phước Khôi, Nguyễn Lai).
08/06/2015
Nghệ thuật tuồng được Bộ VH-TT&DL đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

NSƯT Trần Ngọc Tuấn, Chủ tịch Hội Sân khấu Đà Nẵng, nguyên Giám đốc Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh nhìn nhận, tuồng xứ Quảng không đơn thuần là loại hình biểu diễn, mà còn là một phần ký ức văn hóa gắn với sân đình, lễ hội; là tiếng trống chầu vang vọng trong đời sống tinh thần cộng đồng nhiều thế hệ.

Trải qua quá trình hình thành và phát triển, tuồng xứ Quảng đã xây dựng được một hệ thống ngôn ngữ sân khấu hoàn chỉnh, bao gồm văn học, âm nhạc, vũ đạo, hóa trang, phục trang và nghệ thuật biểu diễn. Trong đó, âm nhạc giữ vai trò quan trọng, góp phần đồng hành, kiến tạo ngôn ngữ nghệ thuật cho sân khấu tuồng.

NSƯT
Trần Ngọc Tuấn
Chủ tịch Hội Sân khấu ĐN
"Tuồng xứ Quảng không đơn thuần là loại hình biểu diễn, mà còn là một phần ký ức văn hóa gắn với sân đình, lễ hội; là tiếng trống chầu vang vọng trong đời sống tinh thần cộng đồng nhiều thế hệ."

Khác nhiều loại hình sân khấu truyền thống, hệ thống làn điệu, bài bản của dàn nhạc tuồng với bộ ba nhạc cụ đặc trưng là trống, kèn, nhị đã tạo nên phong cách âm nhạc mang tính sử thi, tính ước lệ và sắc thái bi hùng của nghệ thuật tuồng.

Để tuồng không bị lãng quên

Từ vài năm nay, Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng (trước đây là Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh) đã không còn tổ chức phục vụ khán giả tại rạp. Sân khấu chỉ sáng đèn khi có khách đoàn ký hợp đồng biểu diễn. Nguyên nhân do lượng khán giả ít, không ổn định, doanh thu thấp. Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng là sân khấu tuồng chuyên nghiệp duy nhất còn hoạt động hiện nay trên địa bàn thành phố.

Sân khấu tuồng truyền thống
Cần có nhiều giải pháp đồng bộ để tuồng có thể tồn tại và phát huy tốt giá trị truyền thống. Ảnh: Nhà hát Nghệ thuật truyền thống

Thực tế này phần nào cho thấy những thách thức mà sân khấu tuồng đang đối mặt. Bởi đã có thời kỳ tuồng Quảng phát triển mạnh mẽ với những soạn giả, nghệ sĩ nổi tiếng và những đêm diễn kín khán giả.

Cùng đó, hàng chục gánh hát, rạp hát từng vang danh một thời từ Khánh Thọ, Quản Hiệp Ban, Bầu Thành, Long Khánh, An Quán, Nam Ô, Bang Chầu, Hòa Bình… đến những câu lạc bộ tuồng địa phương như: Hội An, Duy Xuyên, Quế Sơn… nay vẫn còn trong ký ức của một bộ phận công chúng. Tuy nhiên, khoảng 20 năm trở lại đây khi công nghệ truyền thông phát triển cùng sự thay đổi nhu cầu hưởng thụ văn hóa của công chúng, nhất là lớp trẻ, khiến khoảng cách giữa nghệ thuật tuồng và khán giả càng lớn.

Nhà nghiên cứu văn hóa Phùng Tấn Đông cho rằng hát bội, tuồng xứ Quảng đang bị lãng quên do sự khủng hoảng của sân khấu chuyên nghiệp, kể cả sân khấu không chuyên cũng mất dần công chúng, trong khi nhà nước chưa có chính sách văn hóa thiết thực và lâu dài để “cứu vãn” nghệ thuật tuồng. Vì vậy, cần có những giải pháp căn cơ, mang tính lâu dài để vực dậy nghệ thuật này, từ đào tạo diễn viên, tác gia, nhạc công, đạo diễn, họa sĩ… đến tái lập các câu lạc bộ không chuyên ở các xã, phường, phát triển diễn viên quần chúng, đưa tuồng vào trường học, từ tiểu học, THCS đến đại học.

Nhà nghiên cứu Phùng Tấn Đông
Nhà nghiên cứu văn hóa
"Cần có những giải pháp căn cơ, mang tính lâu dài để vực dậy nghệ thuật này, từ đào tạo diễn viên, nhạc công… đến tái lập các câu lạc bộ không chuyên ở các xã, phường, đưa tuồng vào trường học."
Ông
Nguyễn Nho Khiêm
Chủ tịch Hội Liên hiệp VH-NT Đà Nẵng
"Một loại hình nghệ thuật muốn phát triển bền vững phải được đặt trong hệ sinh thái đầy đủ. Khi đó, tuồng không còn là câu chuyện của nghệ sĩ mà của nhà quản lý văn hóa, doanh nghiệp, cộng đồng, để tuồng không chỉ sống trên sân khấu mà còn sống trong không gian du lịch và môi trường số."

Theo ông Nguyễn Nho Khiêm, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật thành phố, vấn đề đặt ra hiện nay không phải là “giữ” tuồng mà phải tìm cho tuồng một môi trường sống mới. Bảo tồn chỉ có ý nghĩa khi di sản tiếp tục có công chúng, có tác phẩm, có người truyền nghề, có không gian biểu diễn và có khả năng tạo ra giá trị mới.Do đó, cần chuyển từ tư duy bảo tồn đơn lẻ sang tư duy phát triển, đặt tuồng trong chiến lược văn hóa đô thị, du lịch văn hóa và công nghiệp sáng tạo, hướng đến mục tiêu xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm tuồng miền Trung.

“Chúng ta thường đồng nhất sự tồn tại của tuồng với hoạt động của một nhà hát hoặc một đoàn nghệ thuật. Điều đó không sai, nhưng một loại hình nghệ thuật muốn phát triển bền vững phải được đặt trong hệ sinh thái đầy đủ từ sáng tác, đào tạo, biểu diễn đến nghiên cứu và công chúng. Khi đó, tuồng không còn là câu chuyện của nghệ sĩ mà của nhà quản lý văn hóa, nhà nghiên cứu, nhà giáo dục, doanh nghiệp, trường học, cộng đồng và công chúng, để tuồng không chỉ sống trên sân khấu mà còn sống trong ký ức cộng đồng, trong trường học, trong bảo tàng, trong không gian du lịch và môi trường số”, ông Khiêm phân tích.

Tạo "đất sống" cho tuồng

Phát triển đội ngũ kế cận và kết nối tuồng với du lịch được xem là những giải pháp hữu hiệu giúp nghệ thuật tuồng có thể “sống được” trong bối cảnh hiện nay.

Gắn với du lịch

Năm 2010, lần đầu tiên Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (nay là Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng) phối hợp Công ty Du lịch Saigontourist tại Đà Nẵng tổ chức đón 36 khách từ tàu du lịch quốc tế đang cập cảng Tiên Sa đến thưởng thức các tiết mục nghệ thuật như: múa Apsara, độc tấu đàn bầu và trích đoạn tuồng xứ Quảng, mở ra cơ hội đưa các bộ môn nghệ thuật truyền thống phục vụ du lịch.

Tuy vậy, cột mốc đánh dấu sự chuyển hướng quyết liệt của nghệ thuật tuồng theo hướng du lịch phải kể đến hoạt động đưa tuồng xuống phố giữa năm 2015; qua đó không chỉ giới thiệu, quảng bá các giá trị văn hóa bản địa đến công chúng mà còn giúp tạo thêm đất diễn cho các nghệ sĩ tuồng bên ngoài rạp hát.

3 tỷ VNĐ
Doanh thu giao khoán/năm
3 buổi
Diễn mỗi tuần tại Sân bay
15 triệu
Doanh thu/buổi diễn
Vẽ mặt nạ tuồng
Trình diễn vẽ mặt nạ tuồng phục vụ du lịch. Ảnh: Nhà hát tuồng

Bà Nguyễn Thị Hương, Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng chia sẻ, bên cạnh nhiệm vụ tuyên truyền, việc bảo tồn, phát huy giá trị tuồng gắn với du lịch là vấn đề trọng tâm của đơn vị. Thời gian qua, nhà hát đã tham gia vào nhiều hoạt động du lịch của thành phố như chương trình chào năm mới, Lễ hội Food Tour… với các điệu múa, trình diễn mặt nạ nhân vật và trích đoạn tuồng.

Theo bà Hương, mỗi năm đơn vị được giao thu 3 tỷ đồng từ hoạt động biểu diễn nghệ thuật tuồng. Hiện nay, nhà hát đã ký hợp đồng có thu với các đối tác và tổ chức biểu diễn mỗi tuần 3 buổi tại sân bay quốc tế Đà Nẵng (khoảng 15 triệu/buổi). Ngoài ra, đơn vị cũng trình diễn 1 buổi/tuần tại Trung tâm Văn hóa Quảng Nam (phường Bàn Thạch).

Những ngày này, các diễn viên nhà hát đang nỗ lực tập luyện vở tuồng “Di sản dạ yến”, trích đoạn về công cuộc khơi thông dòng kinh Vĩnh Tế của danh tướng Thoại Ngọc Hầu (thời gian 45 phút). Đây là tác phẩm thực hiện theo đơn đặt hàng được ký kết giữa nhà hát với một doanh nghiệp du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh.

“Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển công nghiệp văn hóa, phát huy giá trị nghệ thuật tuồng gắn với du lịch rất quan trọng, đặc biệt với Đà Nẵng, đô thị đang định hướng trở thành “thành phố sự kiện và lễ hội”; bởi tuồng không chỉ là một di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo tồn mà còn là nguồn tài nguyên văn hóa độc đáo; góp phần đa dạng sản phẩm du lịch, quảng bá bản sắc địa phương, nâng cao sức hấp dẫn điểm đến trong quá trình hội nhập”, bà Hương phân tích.

Xây dựng đội ngũ kế cận

Diễn viên tập luyện
Các diễn viên đang luyện tập vở Di sản dạ yến. Ảnh: VĨNH LỘC

Là một trong những cái nôi của nghệ thuật tuồng miền Trung, những năm qua thành phố luôn dành sự quan tâm cho công tác bảo tồn, phát huy loại hình nghệ thuật này. Nhiều chương trình, đề án gìn giữ, phục hồi và phát huy giá trị nghệ thuật tuồng đã được triển khai. Tuy nhiên, trước những biến đổi mạnh mẽ của đời sống kinh tế - xã hội và quá trình hội nhập quốc tế khiến nghệ thuật tuồng xứ Quảng đứng trước không ít khó khăn, thách thức.

Nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử thành phố nhìn nhận, khó nhất hiện nay của nghệ thuật tuồng xứ Quảng cũng như khu vực miền Trung là thiếu kịch bản mới và thiếu người viết kịch bản tuồng. Vì vậy, để bảo tồn, phát huy giá trị nghệ thuật tuồng, các địa phương nên tập trung mở trại sáng tác hàng năm về viết kịch bản tuồng luân phiên tại Nhà sáng tác Đà Nẵng, Nhà sáng tác Nha Trang (khu vực miền Trung) và Nhà sáng tác Đà Lạt (khu vực miền Nam). Các trại sáng tác này có thể kết hợp tổ chức sinh hoạt học thuật, đồng thời mời những nhà viết kịch có thành tựu đến trao đổi kinh nghiệm về viết kịch bản tuồng, nhất là tuồng lịch sử, tuồng cổ…

Cạnh đó, cần có giải pháp đào tạo lực lượng kế cận, bao gồm diễn viên, đạo diễn, người viết kịch bản, nghệ nhân tạo tác mặt nạ tuồng, nhạc công… Thực tế, từ năm 2016, việc đào tạo đội ngũ diễn viên kế cận cũng đã được thành phố quan tâm thông qua việc cử tuyển 20 học viên đi đào tạo, kết quả chọn được 12 người về công tác tại Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng.

Theo bà Nguyễn Thị Hương, nhà hát có 50 diễn viên, tuổi đời bình quân 40, mặc dù vẫn đáp ứng yêu cầu công việc, nhưng dự báo vài năm tới khi một số người thanh sắc không còn sẽ dẫn đến thiếu hụt đội ngũ làm nghề. Hiện đơn vị đang làm đề án tham mưu Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình thành phố tiếp tục cử tuyển 15 - 20 diễn viên tuồng cùng 5 - 10 nhạc công truyền thống đi đào tạo nhằm tạo đội ngũ kế cận. Cùng đó, đơn vị cũng đẩy mạnh truyền nghề tại chỗ với quy định bắt buộc như mỗi nghệ sĩ phải kèm cặp truyền nghề cho một diễn viên trẻ, xem đây là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại hoàn thành nhiệm vụ của nghệ sĩ trong năm.

Mang tuồng đến gần công chúng

Đưa tuồng xuống phố, vào trường học, đến vùng sâu, vùng xa; lồng ghép tuồng vào hoạt động tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và các sự kiện quan trọng của đất nước… được xem là những cách làm sáng tạo được Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng thực hiện thời gian qua, nhằm đưa tuồng đến gần hơn với công chúng.

Đa dạng cách tiếp cận

Giữa tháng 5/2026, gần 50 học sinh đến từ các trường tiểu học trên địa bàn thành phố đã tề tựu về Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng trải nghiệm chương trình “Em là nghệ sĩ”. Với các hoạt động như tô màu mặt nạ tuồng, tập hát câu tuồng và xem trích đoạn tuồng “Trần Quốc Toản về mẹ và ra quân”, không chỉ giúp các em có cơ hội tiếp cận gần hơn nghệ thuật tuồng truyền thống, mà còn góp phần lan tỏa tình yêu nghệ thuật tuồng trong mỗi cô cậu học trò nhỏ.

Trải nghiệm tô mặt nạ
Các học sinh tiểu học trải nghiệm tô vẽ các hình tượng nhân vật tuồng. Ảnh: Nhà hát tuồng

Theo nhà nghiên cứu Hồ Xuân Tịnh, để tạo khán giả cho nghệ thuật tuồng, giải pháp căn cơ nhất là phối hợp với ngành giáo dục và đào tạo đưa tuồng vào giảng dạy với nhiều hình thức như học ngoại khóa, chuyên đề trải nghiệm, câu lạc bộ nghệ thuật và chương trình giáo dục địa phương. Qua đó, không chỉ giúp học sinh tiếp cận trực tiếp nghệ sĩ, hiểu hơn nghệ thuật tuồng mà còn bồi dưỡng ra những thế hệ công chúng yêu mến nghệ thuật tuồng, biết thưởng thức nghệ thuật tuồng xứ Quảng.

Không phủ nhận, tuồng là một bộ môn nghệ thuật kén khán giả, với giới trẻ lại càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận. Vì vậy, việc đưa tuồng vào trường học sẽ giúp học sinh dễ dàng nhận biết, từ đó nuôi dưỡng tình yêu và cảm xúc với tuồng.

Tại Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng, thời gian qua, việc xây dựng không gian cho học sinh đến trải nghiệm nghệ thuật tuồng luôn được chú trọng. Cạnh đó, nhiều chương trình biểu diễn mới cũng được triển khai như: “Hồn Việt”, “Sắc Việt”, “Tuồng xuống phố”, “Con đường di sản”, giúp đưa nghệ thuật tuồng đến gần hơn với công chúng.

Đáng chú ý, việc đưa tuồng về vùng sâu vùng xa; đưa tuồng vào trường học; biểu diễn tuồng tại các đình làng dịp đầu năm; lồng ghép tuồng vào hoạt động tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, các sự kiện trọng đại của đất nước... đã mang đến nhiều kết quả tích cực.

Theo Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng, trước đây, tuồng chủ yếu biểu diễn tại một số điểm trung tâm thành phố, bà con vùng quê, nhất là khu vực phía nam Đà Nẵng ít có cơ hội được xem. Nay hầu hết 20 xã vùng núi phía tây và tây nam của Đà Nẵng đều đã được phục vụ các chương trình, trích đoạn tuồng đặc sắc, được biên soạn ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu.

Số hóa tuồng

Với hệ thống bài bản âm nhạc, kịch bản, hóa trang, phục trang, động tác vũ đạo, kỹ thuật biểu diễn… việc số hóa tuồng có ý nghĩa quan trọng nhằm giúp bảo tồn di sản trong điều kiện đội ngũ nghệ sĩ ngày càng ít đi và phương thức truyền nghề truyền thống gặp nhiều hạn chế. Đặc biệt, thông qua các nền tảng số, nghệ thuật tuồng có thể tiếp cận công chúng trong và ngoài nước thuận tiện, góp phần mở rộng không gian nghệ thuật tuồng.

Số hóa tuồng
Việc số hóa tuồng cũng sẽ góp phần mở rộng không gian biểu diễn tuồng. Ảnh: VĨNH LỘC

Theo nhà nghiên cứu Hồ Xuân Tịnh, việc số hóa hệ thống kịch bản, ghi âm và ghi hình toàn diện các làn điệu cổ, kỹ thuật biểu diễn, phương pháp hóa trang, vũ đạo và các vở diễn tiêu biểu với chất lượng cao không chỉ tạo nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu, mà còn là “ngân hàng dữ liệu sống” lưu giữ những giá trị nguyên gốc của nghệ thuật tuồng trước nguy cơ mai một.

“Nên xây dựng cơ sở dữ liệu số về nghệ thuật tuồng xứ Quảng theo hướng mở, kết nối với hệ thống cơ sở dữ liệu văn hóa của thành phố và quốc gia. Cơ sở dữ liệu này cần tích hợp hình ảnh, video, tư liệu nghiên cứu, hồ sơ nghệ nhân và các tác phẩm tiêu biểu; tạo nền tảng cho việc nghiên cứu, quảng bá và hợp tác quốc tế”, ông Tịnh đề xuất.

Ông Hồ Xuân Tịnh
Nhà nghiên cứu
"Nên xây dựng cơ sở dữ liệu số về nghệ thuật tuồng theo hướng mở. Cơ sở dữ liệu này cần tích hợp hình ảnh, video, tư liệu nghiên cứu, hồ sơ nghệ nhân; tạo nền tảng cho việc nghiên cứu, quảng bá và hợp tác quốc tế."

Có thể thấy, trong lĩnh vực sân khấu, chuyển đổi số không đơn thuần là việc trang bị thiết bị công nghệ hay sử dụng mạng xã hội để quảng bá chương trình biểu diễn, mà là quá trình đổi mới toàn diện từ phương thức quản trị, xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa di sản, truyền thông, bán vé, chăm sóc khán giả đến khai thác dữ liệu để phục vụ công tác quản lý. Với nghệ thuật tuồng, chuyển đổi số còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc lưu giữ các giá trị truyền thống, từ hệ thống âm nhạc, kịch bản, hóa trang, phục trang, động tác vũ đạo đến kỹ thuật biểu diễn…

Ông Nguyễn Thanh Phương, Phó Giám đốc Nhà hát Nghệ thuật truyền thống Đà Nẵng cho rằng, điều quan trọng nhất của chuyển đổi số chính là góp phần mở rộng không gian biểu diễn nghệ thuật tuồng.

“Nếu trước đây, sân khấu tuồng chủ yếu phục vụ khán giả trực tiếp tại nhà hát hoặc các lễ hội truyền thống thì nay, thông qua các nền tảng số, nghệ thuật tuồng có thể tiếp cận công chúng khắp nơi một cách thuận tiện. Trong đó, các chương trình biểu diễn trực tuyến, thư viện số về tuồng, nền tảng giới thiệu nghệ thuật bằng nhiều ngôn ngữ hay các tour tham quan số là những hướng phát triển phù hợp với xu thế của công nghiệp văn hóa hiện nay”, ông Phương nói.

VĨNH LỘC - GIA KHANG - KHÁNH LINH