Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất): Cần làm rõ thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư ở cấp xã
ĐNO - Chiều 22/8, tiếp tục Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, thảo luận tại hội trường về dự án Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất), đại biểu Phan Duy Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng đề nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện một số quy định nhằm bảo đảm tính thống nhất, khả thi và phù hợp với yêu cầu phân cấp, phân quyền trong quản lý ngân sách nhà nước.

Đại biểu Phan Duy Anh thống nhất với chủ trương và sự cần thiết ban hành Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất). Tuy nhiên, đại biểu cho rằng dự án luật được xây dựng trong thời gian ngắn, theo trình tự rút gọn, trong khi Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 mới có hiệu lực từ năm ngân sách 2026 và chưa trải qua một chu kỳ ngân sách đầy đủ để có cơ sở đánh giá toàn diện.
Về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, đại biểu nhận thấy dự thảo luật còn chưa thống nhất trong việc phân định thẩm quyền giữa HĐND và UBND cấp xã.
Cụ thể, khoản 8 Điều 31 quy định HĐND các cấp quyết định chủ trương đầu tư theo khoản 5 Điều 75, nhưng khoản 5 Điều 75 lại chỉ quy định thẩm quyền của HĐND cấp tỉnh, chưa quy định thẩm quyền của HĐND cấp xã. Trong khi đó, khoản 7 Điều 75 giao thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C cho UBND cấp xã.
Theo đại biểu, cách quy định này có thể dẫn đến tình trạng HĐND cấp xã quyết định danh mục tổng thể nhưng không quyết định chủ trương đầu tư đối với từng dự án.

Đại biểu đề nghị điều chỉnh khoản 8 Điều 31 theo hướng chỉ áp dụng đối với HĐND cấp tỉnh, đồng thời tiếp tục giao UBND cấp xã quyết định chủ trương đầu tư dự án nhóm B, nhóm C trong phạm vi danh mục và mức chi đầu tư công trung hạn 5 năm đã được HĐND cấp xã thông qua.
Theo đó, cần thiết lập cơ chế kiểm soát rõ ràng: HĐND cấp xã quyết định kế hoạch, danh mục và tổng mức đầu tư; UBND cấp xã quyết định chủ trương đầu tư từng dự án trong phạm vi đã được phê duyệt và báo cáo HĐND cùng cấp.
Trường hợp vượt danh mục hoặc tổng mức, phải thực hiện điều chỉnh theo đúng thẩm quyền. Cấp tỉnh thực hiện kiểm tra theo hướng hậu kiểm, hạn chế phát sinh thủ tục xin ý kiến trước. Đại biểu cho rằng đây là hướng phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và rút ngắn thời gian chuẩn bị đầu tư.
Góp ý về phân định nhiệm vụ chi giữa nguồn đầu tư công và nguồn chi thường xuyên, đại biểu Phan Duy Anh cho rằng Điều 40 quy định nhiệm vụ chi có tổng kinh phí thực hiện lớn được bố trí từ chi đầu tư phát triển khác, nhiệm vụ có tổng kinh phí thực hiện nhỏ được bố trí từ chi thường xuyên, giao Chính phủ quy định chi tiết. Hai tiêu chí lớn và nhỏ chưa có nội hàm định lượng trong luật.

Theo đại biểu, đây không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến trình tự, thủ tục thực hiện dự án. Khi ranh giới giữa hai nguồn chi chưa rõ, có thể phát sinh xu hướng bố trí các nhiệm vụ mang tính chất đầu tư từ nguồn chi thường xuyên để rút ngắn thủ tục, từ đó làm sai lệch cơ cấu chi ngân sách và ảnh hưởng đến mục tiêu giảm tỷ trọng chi thường xuyên.
Từ thực tế hiện nay, đại biểu cho biết Nghị định số 104/2026 mới quy định mức 20 tỷ đồng đối với nhiệm vụ sửa chữa, cải tạo, nhưng chưa quy định mức đối với mua sắm tài sản, trang thiết bị. Do đó, đại biểu đề nghị luật quy định nguyên tắc xác định mức phân định hoặc giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết về nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách; đồng thời giao địa phương xác định mức cụ thể phù hợp với khả năng cân đối.
Cùng với đó, cần quy định rõ hồ sơ, căn cứ xác định các nhiệm vụ chưa được bố trí hoặc bố trí chưa đủ từ nguồn chi đầu tư công, bảo đảm các văn bản hướng dẫn có hiệu lực đồng thời với luật.
Về thời gian bố trí vốn thực hiện dự án, đại biểu Phan Duy Anh đề nghị nghiên cứu lại quy định về cách tính thời gian bố trí vốn trong bối cảnh đang sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp. Dự thảo quy định thời gian bố trí vốn được tính liên tục, với dự án nhóm A không quá 6 năm, nhóm B không quá 4 năm và nhóm C không quá 3 năm.
Đại biểu cho rằng trong giai đoạn sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều dự án phải tạm dừng để rà soát sự cần thiết, quy mô đầu tư, điều chỉnh chủ đầu tư hoặc cơ quan chủ quản. Đây là những nguyên nhân khách quan, không xuất phát từ lỗi của chủ đầu tư. Nếu vẫn tính liên tục, các dự án có nguy cơ vượt thời hạn và phải thực hiện thủ tục gia hạn.
Đáng chú ý, đại biểu chỉ ra rằng dự thảo luật đã quy định nguyên nhân bất khả kháng là căn cứ điều chỉnh dự án, trong đó có điều chỉnh thời gian thực hiện dự án, nhưng chưa có quy định tương ứng đối với thời gian bố trí vốn.
Vì vậy, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát tính thống nhất giữa các quy định; bổ sung nguyên tắc không tính vào thời gian bố trí vốn khoảng thời gian dự án phải tạm dừng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc do sự kiện bất khả kháng được xác nhận.
Đồng thời, trong điều kiện chưa có đánh giá định lượng đầy đủ, đại biểu đề nghị giữ nguyên thời hạn bố trí vốn 6 năm đối với dự án nhóm A, 4 năm đối với nhóm B và 3 năm đối với nhóm C.
Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) bao gồm 10 chương, 102 điều. Trong đó có những nội dung quan trọng như: Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về ngân sách nhà nước (Chương II); Nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp (Chương III); Kế hoạch tài chính 5 năm (Chương IV); Lập dự toán ngân sách nhà nước hằng năm (Chương V); Chấp hành ngân sách nhà nước hằng năm (Chương VI)...