Tự hào khoe tiếng Việt
ĐNCT - Giữa nhịp sống Sài Gòn sôi động và hiện đại, không ít những người trẻ đang chọn một lối đi riêng: học chữ Hán, chữ Nôm để hiểu sâu hơn tiếng Việt họ đang nói mỗi ngày. Hành trình ấy đã được kể lại qua một triển lãm nhỏ nhưng đầy tâm huyết.
.jpg)
Triển lãm “Từ Tiếng Việt đến Chữ Nôm” do nhóm Tri Thư tổ chức tại không gian Toong (126 Nguyễn Thị Minh Khai, Thành phố Hồ Chí Minh) trong hai ngày 15 và 16/8/2026 dường như không chỉ là một triển lãm đơn thuần, mà còn mở ra một hành trình sống động, một cách tiếp cận văn hóa phù hợp, giúp người trẻ khám phá và tự hào về sự giàu có của tiếng mẹ đẻ.
Hành trình “Hiểu để yêu”
Triển lãm “Từ Tiếng Việt đến Chữ Nôm” đang chia sẻ một cách tiếp cận: Để có thể hiểu và yêu tiếng Việt trọn vẹn, người ta cần phải ngược dòng về lại với cội nguồn chữ Hán, chữ Nôm.
Người đứng sau hành trình này là chị Trương Mỹ Dung, người sáng lập nhóm Tri Thư gồm những hoạt động giáo dục với sự tham gia của phần đông là các bạn trẻ. Suốt gần 10 năm bền bỉ theo đuổi mảng văn hóa cổ, chị Dung tự nhận mình thuộc dạng “lì đòn” khi kiên trì với một lĩnh vực vốn kén người học.
Theo chị, lộ trình giảng dạy của Tri Thư đi theo một trật tự nhất quán: “Từ tiếng Việt đến chữ Nôm thì chữ Hán ở giữa”. Học viên phải thấu hiểu văn hóa và tiếng Việt trước, sau đó rèn Hán văn thật vững, rồi mới chuyển sang chữ Nôm để cảm thụ trọn vẹn văn hóa dân gian. Nhưng đi ngược về cội nguồn chữ nghĩa không đơn thuần chỉ là học thuộc mặt chữ.
Tại triển lãm, TS. Nguyễn Ngọc Quận - nguyên Trưởng Bộ môn Hán Nôm, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh - đánh giá cao sự công phu, chuẩn xác và tinh thần sáng tạo trong các đồ án của học viên Tri Thư. Ông cũng phần nào giúp những người tham gia hiểu được vì sao việc am hiểu chữ cổ lại quan trọng đến vậy qua cách giải mã đôi câu đối dân gian quen thuộc: “Trai tài ôm cóc tía/ Gái sắc bế cầu xanh”.
Theo TS. Quận, “cóc tía” gắn với hình tượng Thiềm Thừ ngậm tiền vàng, gửi gắm ước vọng con trai đỗ đạt, vinh hiển; còn “cầu xanh” là quả tú cầu kết bằng lông, bắt nguồn từ tục gieo cầu kén rể của các tiểu thư quyền quý ngày xưa.
Ông chỉ ra một chi tiết đáng chú ý: một số dị bản đã chép sai thành “bế rùa xanh”, do người đời sau không còn hiểu nghĩa gốc của chữ “cầu” nên tự ý đối lại cho hợp vần. Đó chính là minh chứng sống động cho thấy khi đứt gãy với chữ nghĩa xưa, ngay cả một câu ca dao quen thuộc cũng có thể bị hiểu sai lệch qua nhiều thế hệ. Ông cũng phân tích chữ “cầu” trong Kinh Thi (câu “Quân tử hảo cầu”) mang nghĩa một cặp đôi hoàn hảo, chứ không đơn thuần là tìm kiếm.

Chữ xưa nuôi dưỡng đời nay
Nếu TS. Nguyễn Ngọc Quận cho thấy giá trị học thuật của việc gìn giữ chữ nghĩa xưa, thì chính những học viên rất trẻ của Tri Thư lại là minh chứng cho thấy những tri thức tưởng như “cổ xưa” ấy vẫn đang hồi sinh trong đời sống hiện đại theo những cách rất thú vị.
Đó là câu chuyện của Phương Thanh, 25 tuổi, hiện là bác sĩ tâm lý thuộc Bộ môn Tâm thần, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời trực tiếp điều trị lâm sàng cho bệnh nhân tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương.
Theo chia sẻ của Thanh, chị đã tham gia lớp học Truyện Kiều của cô Trương Mỹ Dung từ 1-2 năm trước để đào sâu tìm hiểu các điển tích, điển cố văn học. Phân đoạn chị tâm đắc nhất là cảnh đoàn viên cuối Truyện Kiều, khi Thúy Vân mượn rượu để giãi bày tâm sự, chủ động tác hợp lại mối duyên xưa cho chị gái và Kim Trọng: “Tàng tàng chén cúc dở say/ Đứng lên, Vân mới giãi bày một hai”. Với chị Thanh, văn chương cổ chứa đựng những hiểu biết tâm lý sâu sắc của cha ông - việc thấu cảm nội tâm nhân vật lịch sử đã giúp chị bồi đắp nhãn quan nhân văn, hỗ trợ đắc lực cho công việc điều trị tâm lý hằng ngày vốn nhiều áp lực tại bệnh viện.
Ở một địa hạt hoàn toàn khác là quản trị doanh nghiệp, chị Thanh Trúc, CEO HTX Lạc Địa tại Ba Tri (Bến Tre), cũng tìm thấy những điều hấp dẫn tương tự từ chữ nghĩa của cha ông. Chị Trúc chia sẻ triết lý điều hành của mình: “Càng kết nối sâu vào trong gốc rễ của mình thì mình càng vững”. Sau khi bản thân trải nghiệm lớp học với cô giáo Trương Mỹ Dung, thấy hữu ích, chị đã đài thọ 100% kinh phí cho 12 đến 15 nhân viên của hợp tác xã tự nguyện theo học chữ Hán, chữ Nôm và Truyện Kiều trong suốt một năm qua.
Thế hệ trẻ hơn cũng đang tiếp nối mạch nguồn này. Hoàng Anh, một trong những học viên nhận học bổng của HTX Lạc Địa, cho biết việc học chữ Nôm đã giúp bạn hiểu tận gốc nghĩa của từng từ tiếng Việt thường dùng, và tự tin đọc trọn vẹn tác phẩm Lục Vân Tiên thay vì chỉ vài đoạn trích ngắn ở trường phổ thông. Thành quả ấy đã kết tinh thành đồ án tốt nghiệp “Cư trần lạc đạo” - nơi Hoàng Anh và các bạn trong nhóm đã chọn lọc 20 thuật ngữ Phật giáo tinh túy như vô thường, căn, phúc, tuệ, thị phi để giải nghĩa, kết hợp cùng tranh khắc mộc bản thủ công.
Chúng tôi đã “giàu” lên nhờ học tiếng Việt như thế nào?
Đứng trước tấm bảng giới thiệu tại triển lãm, nhiều người không khỏi xúc động khi đọc những dòng chữ tri ân tiếng mẹ đẻ:
“Ta học tiếng Việt, ta đọc và ngưỡng vọng những câu chữ tài tình cha ông đã nói, đã viết và rồi, ta dùng tiếng Việt theo cách của riêng ta. Từ những kết nối với cội nguồn thông qua tiếng nói, ta ứng dụng vào những điều ta hiểu biết, thích thú, đam mê... để ta vẫn là ta, nhưng Việt Nam hơn.
Đó là lý do vì sao để bắt đầu hành trình hiểu để yêu văn hóa, chúng tôi nhắn nhủ bạn đến với tiếng Việt. Ở đây chúng tôi không hô khẩu hiệu tiếng Việt giàu và đẹp, chúng tôi bày cho bạn xem nhờ học tiếng Việt, chúng tôi đã “giàu” lên như thế nào. Có đủ chữ để nói điều mình tha thiết muốn nói, có đủ kỹ thuật để bày tỏ nỗi lòng của mình một cách chân phương, mộc mạc nhất. Tiếng Việt là thứ chúng ta quý yêu. Tiếng Việt cũng là thứ chúng tôi tin, sẽ gắn kết chúng ta với xứ sở, nước non này.”