Nối lại lời ru
ĐNCT - Ơ… ơ… Ru ru acoon cúcch ơi… Acoon cúcch ơi… ơ… (Ru ru con ngủ đi, con ngủ đi).

Câu hát của người phụ nữ Cơ Tu ngồi ru cháu trước hiên nhà sàn trong buổi trưa đầy nắng ở làng Bhơ Hôồng (xã Sông Kôn) đã từng làm tôi muốn khóc. Cúi xuống, khuôn mặt người già như bức phù điêu chạm khắc vết thời gian, giọng hát cất lên từ lồng ngực, khàn trầm như tiếng suối chảy qua ghềnh đá sông Kôn rồi chơi vơi, dùng dằng trước khi chảy về xuôi.
Tiếng hát từ sâu thẳm ruột gan
Câu hát ru à ơi líu ríu đánh thức trong tôi những kỷ niệm đã ngủ quên. Tôi nhớ mẹ tôi, dáng gầy nghiêng gần như cả đời vịn chặt 4 dây tao nôi hết ru con, rồi lại ru cháu. Lời ru bất tận như một kho tàng giấu kín trong cõi lòng.
Nhiều lần tôi hỏi, sao mẹ thuộc nhiều bài ru đến vậy? Mẹ học từ bà ngoại, bà ngoại học từ bà cố, cứ thế lời ru như hạt lúa gieo trên cánh đồng hết mùa này đến vụ khác nảy mầm trổ bông làm nên mùa vàng yêu thương đến muôn đời.
Buổi trưa ở Bhơ Hôồng hôm ấy, nắng thắp ánh vàng trên những mái nhà gỗ lưng chừng đồi. Gió phe phẩy quạt, thì thầm với ngọn cây cao lưng núi. Đứa trẻ đã ngủ ngoan trên cánh võng tự hồi nào nhưng người mẹ Cơ Tu vẫn chưa muốn dừng lời ru đang dang dở, như sợ rằng nếu dừng lại sẽ không thể bắt đầu cho lời ru sau.
Chị Đinh Thị Thìn, hướng dẫn viên người Cơ Tu đi bên cạnh khẽ giọng cho biết: “Cha mẹ con bé đi làm ruộng, ở lại chòi lúa trên núi từ hôm qua chưa về. Bà ngoại ở nhà cho cháu ăn, ru cháu ngủ…”.
Có lẽ hát ru con một loại hình âm nhạc xuất hiện sớm nhất, là bài học âm nhạc đầu đời của văn hóa dân gian. Đó là thứ âm nhạc bản năng, không nhằm mục đích biểu diễn nên chẳng cần tiếng đàn, tiếng sáo đệm theo. Tiếng hát cất lên từ sâu thẳm ruột gan, để thỏa mãn tình cảm mẫu tử nên da diết biết chừng nào!
Tôi như vô thức dừng lại thật lâu trước căn nhà gỗ nâu trầm, chìm đắm trong lời ru Cơ Tu xa vắng, rồi tự hỏi: Đã bao lâu rồi mình chưa hát lại lời ru dịu ngọt ấy.
Rất nhiều phụ nữ ở cái tuổi xế chiều, khi con cái lớn khôn, đã bỏ lại lời ru của mẹ mà đi. Những đứa cháu nội cháu ngoại bây giờ lần lượt chào đời nhưng không còn câu hát đưa nôi vùi mình vào giấc ngủ.
Thay vào đó, lúc còn nằm trong bụng mẹ, thai nhi được nghe những bản nhạc giao hưởng của Mozart, Chopin… để kích thích phát triển não bộ. Năm đầu tiên của cuộc đời, giấc ngủ mỗi ngày của trẻ sẽ bắt đầu với “tiếng ồn trắng” (là sự kết hợp của nhiều âm thanh của mưa rơi, sóng biển, gió thổi…) phát ra từ một thiết bị gắn đầu nôi.

Không người kế thừa câu hát ru
Sau mỗi chuyến đi thực tế miền núi trở về, tôi thường buồn mất vài ngày. Bởi mỗi ngày trôi qua, nhà cửa các làng bản càng đông đúc hơn, văn minh hơn nhưng tiếng ru mỗi ngày một thưa dần. Khi làng xóm vắng bóng lũy tre xanh là lúc tiếng ru ngày càng đứt gãy. Huống chi phố thị ngày một hiện đại, cư dân tất bật với nhịp sống vội vã nên càng không đủ thời gian và tâm sức để ru con.
Nhiều khi chúng tôi, những người phụ nữ thời 6X, 7X, thế thế thế hệ cuối cùng biết hát ru đã ngồi lại bên nhau thương tiếc những câu ca cũ: “Ông bà mình hồi xưa ít học, thậm chí không biết mặt con chữ. Vậy mà làm ra những câu hát ân tình. Mỗi lần hát ru con, không chỉ hát ru con ngủ mà còn mượn lời hát nói hộ lòng mình, nhắn nhủ với người thân...”.
Điều đặc biệt của hát ru là những câu ca dao hay ứng tác theo làn điệu dân gian tự nhiên bật ra như dòng sữa mẹ tuôn trào. Câu ca có thể thay đổi theo đối tượng là “em”, là “con” hay “cháu” mà vẫn mượt mà như ngọn gió nồm mát rượi lao xao hàng tre quanh vườn. Vì vậy không phải tự dưng ai đó muốn hát ru con...
Ở khu phố tôi từng ở, mẹ chồng và con dâu giận nhau vì một câu hát ru. Chẳng là người mẹ lặn lội từ quê ra phố, giúp vợ chồng con trai chăm cháu nội. Trước khi đi làm, con dâu dặn mẹ chồng khi cho cháu ngủ chỉ cần quấn “kén” (khăn bọc trẻ sơ sinh) và bật máy phát “tiếng ồn trắng” là xong. Nhưng đi làm về, lại thấy cảnh cháu ngủ vùi trong lòng bà. Người đàn bà quê kiểng ấy cất tiếng ầu ơ… gió đưa, gió đẩy trong căn phòng khách ốp cửa kính trong suốt…
Ở phố thị, thế hệ 8X trở về sau dường như không biết hát ru con hoặc biết nhưng vì chọn lối nuôi con bằng phương pháp mới, hiện đại hơn đã khiến những câu hát đưa nôi ngắc ngoải. Rồi trong xu thế mới, nhiều làng mạc một bước thành phố thị khiến những nông thôn, thậm chí miền núi xa xôi cũng bắt đầu không có người kế thừa câu hát ru con.
Chị Phạm Thị Nga, dân tộc Cor, một người quen cũ của tôi ở xã Trà Kót (nay là xã Trà Liên, thành phố Đà Nẵng) tâm sự qua điện thoại như một tiếng thở dài: “Bây giờ về làng đi tìm một người biết hát ru con quả là khó. Người già trong làng biết nhiều thì đã về “làng mới” trên trời, nơi có ông bà tổ tiên. Còn người trẻ, vì công việc mưu sinh, hòa nhập với cuộc sống hiện đại nên không còn hát ru nữa… Biết làm sao bây giờ!”.
Nghe vậy, lòng tôi thấy nhớ vô cùng ngôi làng sơn cước nằm bên dòng sông Kót thanh bình chảy từ dãy núi Răng Cưa xa mờ mây phủ.
Tái hiện không gian diễn xướng của lời ru
Đã có nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian khi đi tìm nguyên nhân những câu hát ầu ơ bên nôi bị thu hẹp dần đến mức báo động đỏ. Trong đó có sự quay lưng của người trẻ với hát ru vì làn điệu, lời ca buồn, không còn phù hợp với tâm tư, tình cảm và nhịp sống công nghiệp vội vã.
Nhưng có một điều rằng không ai có thể phủ nhận những lời ru từ ngàn xưa ấy không dừng lại việc đưa trẻ vào giấc ngủ, mà còn giúp làm quen tiếng mẹ đẻ ngay từ khi trẻ chưa biết nói. Và qua mỗi câu ru hời bên tiếng nôi tre ấm áp, là bài học làm người được mẹ dạy con từ thuở ban sơ.
Hát ru vì thế được xem là hình thức “giáo dục sớm phi chính thức”, giúp trẻ tiếp xúc với ngôn ngữ, ca dao, tục ngữ, qua đó phát triển cả năng lực ngôn ngữ lẫn tình cảm xã hội. Báo cáo khảo sát về hát ru trong đời sống đương đại của Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia năm 2020 cho thấy hơn 60% người được hỏi cảm thấy “tự hào và gắn bó với cội nguồn” khi nghe lại hát ru.
Nhiều lần tham gia những chuyến đi điền dã cùng Hội Văn hóa Dân gian Đà Nẵng ở các vùng miền núi Quảng Nam (cũ), chúng tôi đã luôn trăn trở: Làm thế nào để hát ru sống lại trong không gian diễn xướng tự nhiên như vốn có chứ không dừng lại những bước sưu tầm hay hội thi, hội diễn… Một câu hỏi khó trả lời bằng giới thuyết mà cần phải có sự chung tay cả chính quyền, cộng đồng và các nhà nghiên cứu dài hạn.
Khi chạm vào vấn đề nan giải này, chị Nguyễn Thị Phúc, Phó trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội phường Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, cho biết: “Cần phải có những biện pháp hữu hiệu mới có thể thực hiện được, bởi trên thực tế hát ru ngày nay không còn nhiều, trong khi đó lớp trẻ thì không những không mặn mà, yêu thích mà còn cảm thấy xa lạ thể loại âm nhạc truyền thống quý báu này”.
Tôi đã ngồi hàng giờ gọi điện đến nhiều bạn bè là giáo viên dạy Văn, tìm cách nối lại lời ru đã đứt gãy thời buổi số hóa, và nhận được rất nhiều phản hồi lý thú.
Có người bảo cần soạn lại lời mới cho những bài ca cũ buồn u uất để phù hợp với tâm lý người trẻ, đưa hát ru vào chương trình giảng dạy các cấp và có các tiết thực nghiệm sinh động.
Người khác lại góp ý, nên chăng các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ thành lập các câu lạc bộ dạy các bà mẹ trẻ hát ru con, thay nhạc cổ điển phương Tây bằng hát ru, dân ca dân tộc trong chương trình thai giáo.
Và vĩ mô hơn là xây dựng các phòng hát ru ở các bảo tàng, để lưu giữ băng từ, những điệu hát ru của 54 dân tộc anh em suốt 3 miền Bắc, Trung, Nam nước Việt. Ở đó còn tái hiện không gian diễn xướng của lời ru ầu ơ bên cánh võng, nôi đưa dưới lũy tre già ngàn năm gìn làng giữ nước…
Còn nhớ, trong chuyến đi điền dã lên huyện Tây Giang (cũ) mấy năm trước, tôi từng nghe anh Arất Blúi - khi đó là Phó Chủ tịch UBND huyện, giờ là Chủ tịch UBND xã Tây Giang - tâm tình về hát ru dân tộc mình.
Hôm qua nghe giọng anh qua điện thoại như cơn gió mát nối lại lời ru xưa: “Ở chỗ mình chỉ có người già vẫn còn giữ lệ hát ru cháu. Người trẻ đi làm ăn khắp nơi nên biếng lười lời ru. Nhưng một khi bếp trên nhà sàn làng ta vẫn đỏ lửa, tiếng Cơ Tu vẫn xanh như cây rừng trên đỉnh K’lang thì hà cớ chi để lời ru lạc mất. Nên chi người già phải dạy cho người trẻ biết hát ru con…”.