Kiến nghị sửa đổi, bổ sung nghị quyết số 53/2026/NQ-HĐND:Bảo đảm sự phù hợp, gỡ vướng từ thực tiễn
Những vướng mắc, khó khăn trong thực hiện Nghị quyết số 53/2026/NQ-HĐND của HĐND thành phố được các địa phương nhận diện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung để phù hợp thực tiễn.
.jpg)
Gặp khó trong xét chọn
Ngày 29/6/2026, HĐND thành phố ban hành Nghị quyết số 53/2026/NQ-HĐND quy định số lượng, chức danh, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách và người tham gia hoạt động ở thôn/tổ dân phố trên địa bàn (có hiệu lực từ ngày 1/7/2026).
Nghị quyết được ban hành nhằm hỗ trợ cũng là ghi nhận đóng góp của người hoạt động không chuyên trách ở thôn/tổ dân phố không thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ theo Nghị định số 154/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tinh giản biên chế. Tuy nhiên, do điều kiện ngân sách thành phố, mức hỗ trợ theo Nghị quyết số 53 có sự chênh lệch lớn so với Nghị định số 154. Điều này cũng là nguyên nhân khi áp dụng chính sách vào thực tế làm nảy sinh vướng mắc ở việc xác định trường hợp nào được hỗ trợ theo Nghị định số 154 hoặc Nghị quyết số 53.
Tại cuộc khảo sát của Ban Pháp chế HĐND thành phố mới đây, đại diện UBND phường Quảng Phú cho biết, địa phương chưa xác định được trường hợp người hoạt động không chuyên trách tổ dân phố hưởng chính sách theo Nghị định số 154 hay Nghị quyết số 53.
Ông Huỳnh Ngọc Bá, Chủ tịch UBND phường Quảng Phú lý giải nguyên nhân: Các trường hợp có điều kiện tương đối giống nhau, như không đủ chuẩn, số năm công tác nhiều, lớn tuổi…, nên không có cơ sở phân loại, đánh giá lựa chọn trường hợp nào hưởng theo chính sách nào để tạo sự đồng thuận. UBND phường đã nhiều lần kiến nghị với Sở Nội vụ, UBND thành phố về vấn đề này.
Cùng với sắp xếp giảm 5 tổ dân phố còn 15 tổ dân phố, căn cứ Quy định số 996-QĐ/TU ngày 22/6/2026 của Thành ủy về tiêu chuẩn chức danh người hoạt động không chuyên trách thôn/tổ dân phố, phường Hương Trà đã tổ chức kiện toàn chức danh người hoạt động không chuyên trách tại các tổ dân phố sau sắp xếp.
Theo đó, ba chức danh người hoạt động không chuyên trách tại tổ dân phố đều cơ bản bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định. Đây cũng là lý do Hương Trà có số lượng người hoạt động không chuyên trách nghỉ công tác sau khi thực hiện kiện toàn, sắp xếp nhiều hơn số lượng được xác định là dôi dư theo quy định.
Đề xuất mức hỗ trợ tương đồng
Chủ tịch UBND phường Hương Trà Trần Trung Hậu cho hay, UBND phường chưa thể hoàn thành xác định cụ thể trường hợp hưởng chế độ, chính sách theo Nghị định số 154 hay Nghị quyết số 53 của HĐND thành phố.
Bởi lẽ, cùng trường hợp nhưng mức hưởng theo Nghị định số 154 có thể cao hơn đến 20 lần so với mức hỗ trợ theo Nghị quyết số 53. Trong khi đó, các đối tượng đều nghỉ công tác do thực hiện kiện toàn, sắp xếp thôn, tổ dân phố, có quá trình công tác và điều kiện tương đối tương đồng. Sự chênh lệch lớn về mức hưởng giữa hai chính sách gây khó khăn cho địa phương trong xác định, lựa chọn đối tượng; dễ phát sinh tâm lý so sánh, thắc mắc, kiến nghị và khó bảo đảm tính công bằng, hợp lý, thống nhất trong quá trình thực hiện.
“Đề nghị HĐND thành phố xem xét sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 53 theo hướng điều chỉnh mức hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn/tổ dân phố nghỉ công tác do thực hiện kiện toàn, sắp xếp theo hướng tương đương với chế độ quy định tại Nghị định số 154. Từ đó, nhằm bảo đảm sự tương đồng về chính sách đối với các trường hợp cùng nghỉ công tác do thực hiện sắp xếp, đồng thời tạo sự công bằng, thống nhất và đồng thuận trong quá trình tổ chức thực hiện”, ông Hậu đề xuất.
Cùng ý kiến, bà Nguyễn Thị Hồng, Chủ tịch UBND xã Phú Thuận cho rằng, sau khi sắp xếp thôn/tổ dân phố, phần lớn người hoạt động không chuyên trách nghỉ công tác có số năm công tác nhiều, lớn tuổi, các điều kiện, tiêu chí giống nhau. Nếu việc hưởng chính sách khác nhau, dễ phát sinh kiến nghị, thắc mắc và chưa bảo đảm tính thống nhất trong quá trình thực hiện.
Ông Lương Công Tuấn, Trưởng ban Pháp chế HĐND thành phố cho biết, dự kiến tại kỳ họp chuyên đề diễn ra đầu tháng 9/2026, HĐND thành phố xem xét, ban hành nghị quyết bổ sung, sửa đổi Nghị quyết số 53, làm cơ sở pháp lý và tạo thuận lợi cho các địa phương triển khai thực hiện.
Điều 6. Chế độ, chính sách hỗ trợ một lần khi nghỉ công tác ngay đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố và người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố
1. Đối tượng, điều kiện áp dụng:
a) Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố không đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện để tiếp tục bố trí khi sắp xếp thôn, tổ dân phố, chi bộ và ban công tác mặt trận; có nguyện vọng nghỉ công tác và được cấp có thẩm quyền thống nhất (chỉ áp dụng đối với các trường hợp không thuộc phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng chính sách hỗ trợ quy định tại Nghị định số 154/2025/NĐ-CP ngày 15/6/2025 của Chính phủ).
b) Người tham gia hoạt động ở thôn, tổ dân phố dôi dư do sắp xếp thôn, tổ dân phố, chi bộ và ban công tác mặt trận; được cấp có thẩm quyền thống nhất nghỉ ngay (không áp dụng đối với các thôn, tổ dân phố, chi bộ, Ban Công tác Mặt trận, chi hội đoàn thể giữ nguyên).
2. Mức hỗ trợ một lần theo thời gian công tác:
a) Thời gian công tác dưới 1 năm: mức 3.000.000 đồng/người.
b) Thời gian công tác từ 1 năm đến dưới 5 năm: mức 5.000.000 đồng/người.
c) Thời gian công tác từ 5 năm đến dưới 10 năm: mức 10.000.000 đồng/người.
d) Thời gian công tác từ 10 năm trở lên: mức 15.000.000 đồng/người.
3. Giao UBND cấp xã xác định và chịu trách nhiệm về đối tượng, thời gian tham gia công tác để làm cơ sở chi trả chế độ, chính sách theo quy định tại các khoản 1, 2 Điều này.
4. Trường hợp Chính phủ mở rộng đối tượng áp dụng Nghị định 154/2025/NĐ-CP, cho phép giải quyết chế độ, chính sách hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố không đảm bảo tiêu chuẩn, điều kiện, có nguyện vọng nghỉ công tác thì đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định của Chính phủ (không áp dụng chính sách hỗ trợ một lần theo quy định tại khoản 2 Điều này).
(Trích Nghị quyết số 53/2026/NQ-HĐND quy định số lượng, chức danh, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách và người tham gia hoạt động ở thôn/tổ dân phố trên địa bàn)