Sinh nở trong nếp xưa
Từ khi còn trong bụng mẹ cho đến ngày chào đời, người Quảng xưa có nhiều tục lệ, kiêng cữ và nghi lễ gửi gắm mong ước “mẹ tròn con vuông”. Những nếp tục ấy không chỉ phản ánh niềm tin dân gian mà còn lưu giữ nhiều kinh nghiệm về chăm sóc thai phụ, thai nhi và gìn giữ nòi giống.

Những kinh nghiệm thai giáo dân gian
Quan niệm khởi nguyên về sinh đẻ của cư dân xứ Quảng ở miền xuôi cũng như miền ngược có điểm giống nhau khi cho rằng thai nhi là biểu hiện cụ thể của ân huệ mà tạo hóa đã ban cho con người, và việc tạo nặn ra thai nhi là do các đấng thần linh chủ về sinh đẻ thực hiện.
Với người Kinh, người Hoa, đó là 3 bà chúa Sinh thai và 12 Bà mụ; còn các tộc người vùng cao là mẹ Rừng và các mụ Cả. Vì vậy, khi hiếm muộn, người ta thường đến cúng bái các vị thần này để cầu con. Khi mang thai, thai phụ hoặc chủ gia đình cũng đến cúng bái các vị thần sinh sản để cầu mong mọi sự bình an cho thai nhi và thai phụ.
Bắt đầu mang thai cũng là khởi đầu một quá trình thực hành nhiều kiêng cữ gắn với niềm tin về bảo dưỡng thai nhi, giữ gìn sức khỏe người mẹ, hướng tới mục đích sinh nở “mẹ tròn con vuông”. Các kiêng cữ này có thể chia làm hai loại: kiêng cữ hành động và kiêng cữ ăn uống.

Kiêng cữ hành động là thai phụ không được khuân vác, khiêng gánh những vật dụng lớn, nặng; không được bước ngang qua hầm hố, dây giăng ngang; không được ngồi lên chổi quét nhà; không đi nhanh, nóng giận, cáu gắt, phải luôn hướng đến những điều thiện lành… Người chồng trong thời gian vợ mang thai cũng kiêng các việc làm có tính sát sinh như làm thịt gia súc; các việc có tính chèn ép như bó mạ, đầm nền nhà; có tính ngăn chặn như làm chuồng gà, chuồng heo; có tính chia cắt như chặt chuối, xén mụt măng.
Kiêng cữ ăn uống là thai phụ không được ăn một số thức ăn mà người ta cho rằng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ và sự phát triển của thai nhi. Thai phụ cữ ăn ốc vì sợ sinh con có dãi nhớt, cữ ăn trái cây héo, đồ cúng hoa quả vì sợ sinh con có ghẻ sài, cữ ăn cua vì sợ sinh ngang…
Một số tộc người vùng cao như Cơ Tu, Co, Ca Dong cũng có những kiêng cữ khi mang thai tương tự người Kinh. Họ cữ ăn thịt các động vật mà họ cho rằng xấu như khỉ, rắn, bắp chuối đang nở, quả lâu chín; cữ uống nước nấu từ cây ngải rợm, cữ làm các công việc nặng… Người chồng cữ làm những việc mà họ cho rằng sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nhi như đục lỗ cây, xây cất các góc cạnh.
Trong điều kiện y tế chưa phát triển, các hình thức kiêng cữ này chính là những tri thức dân gian tích lũy từ lâu đời về chăm sóc sức khỏe thai phụ, bảo vệ sự phát triển ổn định, bình thường của thai nhi, hướng đến ước mơ ngàn đời của con người là sinh đẻ “mẹ tròn con vuông”.

Tục lệ quanh chuyện sinh nở
Một số tục lệ liên quan đến quá trình mang thai được thực hành vừa mang những yếu tố thô sơ, siêu nhiên, vừa lưu dấu những niềm tin lâu đời về sinh đẻ. Khi thai phụ khó sinh hoặc mang thai quá ngày, có tục người chồng lén đến một chuồng trâu hàng xóm, mở cổng để trâu ra ngoài. Người ta cho rằng làm như vậy thai phụ sẽ dễ sinh. Lại có tục khi thai phụ trở dạ lâu sinh, người chồng cầm một chiếc bát đi xin gạo ở các nhà xung quanh, mỗi nhà một ít cho đến khi bát đầy, mang về nấu cháo cho thai phụ ăn.
Đến ngày sắp sinh, người ta che buồng cho thai phụ ở cữ, sau đó cúng bà Xó. Tục này liên quan đến một truyền thuyết kể rằng, bà Xó là một người đàn bà mang thai chạy giặc, giữa đường thì sinh con. Do bị giặc đuổi nên quần áo rách hết, chỉ còn một tấm chăn che thân. Trong quá trình chạy giặc, do quá đói, bà phải bắt cá nướng ăn cho đỡ đói. Vì vậy, khi cúng bà Xó không được thắp đèn. Lễ vật là một vài con cá nướng đặt trên lá môn, 3 nắm cơm trắng. Tục lệ này là dấu vết lâu đời, nguyên thủy về sinh nở.

Ngoài ra còn một số kiêng cữ khác như khi đi sinh, người chồng phải lánh mặt, nếu không đứa bé sẽ lì không chịu ra; cữ gọi thẳng tên một số việc như ở cữ gọi là “nằm bếp”, sinh con hư gọi là “nằm bếp dối”, sinh con trai thì nói là con gái và ngược lại, sinh con gái gọi là con trai, đứa trẻ khỏe mạnh gọi là “xấu coi”, trẻ khóc nhiều gọi là “quấy”.
Khi thai phụ mang thai mà thời gian sinh gối sang năm sau (mang thai 2 năm), có tục cúng cơm đơm lẻ. Lễ cúng được tổ chức vào những tháng cuối năm đầu mang thai. Người ta bày một bàn cúng trước nhà, lễ vật có chè xôi, hoa quả và đôi đũa tre một đầu vót các cọng tre xòe ra như đóa hoa, gọi là đũa bông. Đôi đũa bông này khi cúng xong được vắt lên mái hiên nhà.
Các tục lệ, kiêng cữ liên quan đến giai đoạn mang thai cũng như nhiều tục lệ khác gắn với quá trình sinh đẻ, nuôi dưỡng trẻ em ghi dấu chiều sâu và những đặc điểm vùng miền, dân tộc về văn hóa duy trì nòi giống, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và thai giáo dân gian. Đây cũng là những kinh nghiệm, những tri thức dân gian đã phát huy tác dụng trong quá khứ và cho đến nay có điều hay được chắt lọc vẫn chưa mất đi tính cần thiết, hữu ích.