Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Phát triển vùng không phải phép cộng các kế hoạch địa phương
ĐNO - Sáng 3/9, phát biểu kết luận Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai 5 nghị quyết, 1 chỉ thị của Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia; phải chấm dứt tình trạng địa phương nào biết địa phương đó, chuyển mạnh sang liên kết và cùng hưởng lợi.

Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại phòng họp Diên Hồng, Tòa nhà Quốc hội, kết nối trực tuyến với các ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương, cơ quan, đơn vị.
Tại điểm cầu Trung tâm Hành chính thành phố Đà Nẵng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Lê Ngọc Quang chủ trì.

Cùng dự có Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Nguyễn Khắc Toàn; Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố Nguyễn Đức Dũng; Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Mạnh Hùng; Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Nguyễn Đình Vĩnh; Phó Bí thư Thành ủy Ngô Xuân Thắng; các Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Thành ủy viên và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị.
Chuyển nhận thức thành hành động
Phát biểu kết luận, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đánh giá cao sự chuẩn bị nghiêm túc của các cơ quan và tinh thần trách nhiệm của toàn thể hội nghị. Qua các chuyên đề, nội dung cốt lõi, điểm mới và yêu cầu tổ chức thực hiện 5 nghị quyết, 1 chỉ thị của Bộ Chính trị đã được làm rõ.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng được triển khai trong bối cảnh đất nước có thời cơ lớn, khát vọng lớn và yêu cầu rất cao; thế giới, khu vực biến động nhanh, công nghệ số và biến đổi khí hậu đang định hình lại phương thức phát triển, quản trị.
Điều đó đòi hỏi đổi mới mạnh mẽ tư duy lãnh đạo, phương thức tổ chức và năng lực hành động; không thể làm việc theo cách cũ, chậm quyết định, chậm thực thi.
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, 5 nghị quyết, 1 chỉ thị hợp thành chỉnh thể thống nhất về quan điểm và hành động. Công tác tư tưởng, học tập và thực hành theo Bác, xây dựng đội ngũ cán bộ tạo nền tảng chính trị, tinh thần, đạo đức, sức chiến đấu.
Phát triển vùng, du lịch và công tác người Việt Nam ở nước ngoài góp phần mở rộng không gian, khơi thông, kết nối các nguồn lực.
Các văn kiện cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững và nâng cao đời sống nhân dân.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, hội nghị mở ra giai đoạn quyết định là tổ chức thực hiện. Không được coi học nghị quyết là thủ tục, nghe xong, ban hành kế hoạch là hoàn thành. Giá trị của văn kiện phải thể hiện ở khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, tạo chuyển biến mà nhân dân cảm nhận được.
Từng cấp ủy, cơ quan, địa phương và đảng viên phải rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm, trách nhiệm; chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả.
Về yêu cầu đầu tiên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị thống nhất nhận thức, nắm vững điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa 6 văn kiện; quán triệt đúng từng văn kiện, kết nối đúng và tổ chức thực hiện đồng bộ, tạo sức mạnh tổng hợp.
Công tác tư tưởng phải dẫn dắt nhận thức xã hội. Học và làm theo Bác phải chuyển thành thực hành thường xuyên, coi trọng phương pháp Hồ Chí Minh với phương châm “Nghĩ về Bác lòng ta trong sáng hơn”. Cán bộ phải được khuyến khích dám làm vì việc chung nhưng đồng thời chịu sự kiểm soát quyền lực.
Ngay sau hội nghị, các cấp ủy, cơ quan, địa phương phải rà soát chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, các nghị quyết chiến lược và 6 văn kiện; tích hợp những nhiệm vụ có cùng mục tiêu, địa bàn; xử lý chồng chéo, điều phối nguồn lực dùng chung.
Tích hợp không có nghĩa là hòa lẫn, đồng bộ không có nghĩa là đồng nhất. Mỗi văn kiện có mục tiêu, nhiệm vụ và công cụ riêng, nhưng phần giao thoa phải được đưa vào kế hoạch chung, phối hợp nguồn lực, kết nối dữ liệu, thống nhất kiểm tra, giám sát.
Mỗi nhiệm vụ phải xác định rõ mục tiêu, một đầu mối chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm và dữ liệu kiểm chứng; chuyển từ quản lý tiến độ sang quản trị kết quả, không lấy văn bản, hội nghị thay cho chuyển biến thực tế. Lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích chính đáng của nhân dân là tiêu chuẩn cao nhất.
Thể chế mở đường, cán bộ tiên phong
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đồng thời hoàn thiện thể chế, phân định thẩm quyền, bảo đảm nguồn lực và quản trị rủi ro; không giao việc trước rồi sau đó mới tìm điều kiện thực hiện.
Thể chế phải đi trước một bước, vừa giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, vừa mở đường phát triển. Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan phải sửa đổi những quy định chồng chéo, lấp khoảng trống pháp lý cản trở đổi mới, liên kết vùng, phát triển du lịch, thu hút nhân tài và phát huy nguồn lực.
Vấn đề đã chín, đã rõ, được thực tiễn kiểm nghiệm phải sớm thể chế hóa. Việc vượt thẩm quyền phải báo cáo kèm phương án xử lý, không dừng lại ở việc nêu khó khăn.
Phân cấp, phân quyền phải đi cùng nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực; vận hành theo cơ chế giao quyền, giám sát thực thi, quản trị rủi ro và đánh giá bằng kết quả.
Trung ương tập trung chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung và nguồn lực lớn; cấp tỉnh bảo đảm điều kiện; cấp xã phải đủ năng lực phục vụ nhân dân. Dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống”.
Việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải được thí điểm có kiểm soát, xác định rõ mục tiêu, phạm vi, thời hạn, nguồn lực, giới hạn rủi ro, giám sát và trách nhiệm; thực hiện theo chu trình thử nghiệm, đánh giá, hoàn thiện, nhân rộng, luật hóa.
Trong phân cấp, thí điểm và đổi mới, phải bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. Tuy nhiên, bảo vệ không có nghĩa là miễn trách nhiệm.
Kiểm soát quyền lực nhằm bảo đảm đổi mới đúng hướng, không làm tê liệt sáng tạo; bảo vệ đúng người, đúng việc và xử lý nghiêm người vụ lợi, né tránh, cố ý trì hoãn hoặc cản trở đổi mới thuộc thẩm quyền.
“Thời gian là một nguồn lực phát triển không thể tái tạo”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh và lưu ý chậm thể chế hóa, chậm quyết định, chậm tháo gỡ điểm nghẽn sẽ làm tăng chi phí, mất cơ hội. Việc đã rõ phải làm ngay; vướng mắc phải xử lý từ sớm.
Về công tác cán bộ, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tạo chuyển biến thực chất về tinh thần tiên phong, trách nhiệm nêu gương và văn hóa thực thi, xem đây là khâu quyết định đưa nghị quyết, chỉ thị vào cuộc sống.
Nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ cầm chừng, né tránh thì công việc vẫn trì trệ. Phải chọn người theo việc, giao việc để thử thách, lấy kết quả làm căn cứ đánh giá, sử dụng, sàng lọc.
Người dám nghĩ, dám làm, có sản phẩm thực chất phải được ghi nhận, bảo vệ, trọng dụng; người né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng phải được sàng lọc, thay thế.
Đánh giá cán bộ phải dân chủ, công tâm, khách quan, đa chiều; gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, khả năng tháo gỡ điểm nghẽn, uy tín và tín nhiệm của nhân dân. Không đánh đồng rủi ro khách quan, sai sót không vụ lợi trong thực hiện đúng chủ trương với hành vi vi phạm, làm thui chột động lực đổi mới.
Nêu gương là một phương thức lãnh đạo. Người đứng đầu phải nêu gương bằng hành động, quyết định và kết quả; trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó; xuống cơ sở, đối thoại với cán bộ, người dân, doanh nghiệp; xác định vướng mắc xuất phát từ thể chế hay con người, quyết định theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm đến cùng.
Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, phải tự soi, tự sửa; nêu gương bằng kết quả, hiệu quả công tác. Điểm mới của Chỉ thị số 07-CT/TW là chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, coi trọng phương pháp Hồ Chí Minh: nghiên cứu kỹ thực tiễn trước khi quyết định, chọn đúng việc trọng tâm, làm việc dân chủ, khoa học, dựa vào dân, lắng nghe dân và chịu sự kiểm tra của dân.
Tổ chức phát triển theo lợi ích chung
Về tổ chức lại không gian và nguồn lực phát triển, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, không phải phép cộng các kế hoạch địa phương.
Phải chuyển từ không gian hành chính sang không gian phát triển đa tầng, đa cực, dựa trên chức năng, lợi thế và chuỗi giá trị; kết nối đất liền, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, không gian số cùng các không gian phát triển mới.

Mỗi địa phương phải xác định rõ vai trò trong vùng, lợi thế cần tập trung, nhiệm vụ phải liên kết, hạ tầng có sức lan tỏa; không chạy theo cơ cấu giống nhau, nơi nào cũng muốn có cảng biển, sân bay, khu công nghệ cao, trung tâm tài chính mà không căn cứ lợi thế và hiệu quả. Quy hoạch phải trở thành công cụ tổ chức phát triển"
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Đối với công trình liên vùng, phải chấm dứt tình trạng địa phương nào biết địa phương đó; thực hiện cùng bàn, cùng quyết định, cùng góp nguồn lực, cùng chịu trách nhiệm và cùng hưởng lợi.
Đầu tư công phải tập trung vào hạ tầng nền tảng, hạ tầng liên vùng, hạ tầng số, khoa học - công nghệ, năng lượng và logistics, tránh dàn trải. Phát triển vùng phải gắn kinh tế với văn hóa, xã hội, an sinh, môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu, quốc phòng, an ninh; nâng cao tính tự chủ, sức chống chịu của từng vùng và cả nền kinh tế.
Phát triển du lịch phải được đặt trong chiến lược phát triển đất nước và không gian kinh tế vùng, trở thành động lực tăng trưởng mới, nâng cao sức mạnh mềm; được tổ chức như một hệ sinh thái kinh tế tổng hợp, liên ngành, liên vùng.
Ngành du lịch phải chuyển mạnh từ số lượng sang chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh; lấy văn hóa, bản sắc, trải nghiệm làm lợi thế; khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh làm động lực.
Cần tháo gỡ điểm nghẽn về thể chế, thị thực, hạ tầng, quản trị điểm đến, nhân lực, dữ liệu, quảng bá; hướng vào phân khúc khách chi tiêu cao, lưu trú dài ngày.
Liên kết vùng phải tạo ra sản phẩm đặc sắc, thương hiệu chung và chuỗi giá trị thực chất. Doanh nghiệp là lực lượng tiên phong, nhân dân là chủ thể; không đánh đổi di sản, bản sắc, môi trường lấy tăng trưởng trước mắt.
Cộng đồng hơn 6,5 triệu người Việt Nam sinh sống, làm việc, học tập tại hơn 130 quốc gia, vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của dân tộc, nguồn lực chiến lược, cầu nối với thế giới. Công tác này phải chuyển từ vận động, chăm lo sang đồng hành, kiến tạo cơ chế và kết nối nguồn lực; không kêu gọi chung chung.
Mỗi vùng động lực, trung tâm đổi mới sáng tạo, ngành công nghệ chiến lược phải xác định rõ nhu cầu chuyên gia, công nghệ, vốn, mạng lưới, thị trường; các bộ, ngành, địa phương, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp phải có dự án cụ thể để đồng bào tham gia.
Cùng với hoàn thiện chính sách, đơn giản hóa thủ tục, cần xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới người Việt Nam toàn cầu; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của đồng bào; giữ gìn tiếng Việt, bản sắc, cội nguồn; lắng nghe ý kiến xây dựng, kể cả quan điểm khác biệt không phương hại lợi ích quốc gia - dân tộc.
Đồng thời, phát huy vai trò của đồng bào là “đại sứ văn hóa”, “đại sứ hữu nghị”, chủ thể thông tin đối ngoại, góp phần nâng cao sức mạnh mềm, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Không lấy văn bản thay cho kết quả
Về công tác tư tưởng và truyền thông chính sách, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu quán triệt phương châm “Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả”; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm gốc, lấy thuyết phục làm phương thức chủ đạo.
Công tác tư tưởng phải đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện, đi sau tổng kết thực tiễn; củng cố niềm tin, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ sớm, từ cơ sở.
Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, trước hết là cấp ủy và người đứng đầu, không khoán trắng cho cơ quan chuyên trách. Truyền thông chính sách phải kịp thời, chính xác, dễ hiểu; tăng cường giải thích, đối thoại, lắng nghe, tạo đồng thuận bằng sự thật, lý lẽ và kết quả thực tiễn.
Phải coi không gian mạng là địa bàn trọng yếu của công tác tư tưởng và là kênh lắng nghe nhân dân. Cần phân biệt băn khoăn, phản biện, thông tin chưa đầy đủ với tin giả, xuyên tạc, thao túng có tổ chức; không quy chụp ý kiến khác biệt, không để thông tin giả mạo, độc hại dẫn dắt.
Dữ liệu, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo phải được sử dụng để dự báo, cảnh báo nhưng không được kỹ thuật hóa công tác tư tưởng. Thông tin do công nghệ hỗ trợ phải được kiểm chứng và có người chịu trách nhiệm.
Công nghệ không thể thay thế bản lĩnh chính trị, năng lực đối thoại. Sức thuyết phục cao nhất vẫn là chính sách đúng, cán bộ gương mẫu và những vấn đề chính đáng của nhân dân được giải quyết.
Kiểm tra, giám sát phải được tiến hành ngay từ đầu, vừa giữ kỷ luật, vừa cảnh báo sớm, tháo gỡ khó khăn; tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm, nguồn lực lớn và những vấn đề nhân dân quan tâm.
Kết quả phải gắn với đánh giá tổ chức đảng, cán bộ, người đứng đầu; nơi làm tốt phải nhân rộng, nơi trì trệ phải xử lý. Không lấy cuộc họp, văn bản, báo cáo thay cho kết quả; nhiệm vụ chỉ hoàn thành khi có sản phẩm, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế.
Nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng. Phải phát huy vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân; coi phản hồi thực tiễn là kênh kiểm chứng chính sách. Giá trị nghị quyết phải được thể hiện ở đời sống và niềm tin của nhân dân.
Ngay sau hội nghị, các cấp ủy, cơ quan, địa phương và người đứng đầu phải xác định nhiệm vụ trọng tâm; giao đúng người, đủ thẩm quyền, nguồn lực; rõ sản phẩm, tiến độ và trách nhiệm.
Nhắc lại lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Kế hoạch một, biện pháp mười, quyết tâm hai mươi”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định 6 văn kiện đã rõ chủ trương, mục tiêu; điều quyết định là tổ chức thực hiện và trách nhiệm của người đứng đầu.
Mỗi văn kiện phải trở thành việc làm cụ thể, có người chịu trách nhiệm và được kiểm chứng bằng kết quả; cuối cùng phải làm cho đất nước mạnh hơn, nhân dân sống tốt hơn, niềm tin vững chắc hơn.