Tiếng muỗng khua trong ký ức
ĐNCT - Sự ra đời của chiếc muỗng mang theo cả một dòng chảy văn hóa hẳn hoi. Những chiếc muỗng bằng xương, bằng đồng đã hiện diện trong đời sống người Việt cổ từ mấy ngàn năm trước trên mảnh đất này.

Rồi chiếc muỗng cũng theo xã hội mà phân hóa: Muỗng tre, muỗng gỗ lầm lũi bình dân; chiếc muỗng bằng bạc của nhà giàu, quan lại; muỗng vàng, muỗng khảm ngọc của giai tầng quý tộc, của nhà vua. Và ta như nhận ra tính văn hóa lẩn khuất trong vật dụng bé nhỏ này.
Chiếc muỗng chở nặng tình mẹ
Tôi nhìn chiếc muỗng nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay, và ký ức bỗng vỡ òa về những ngày thơ bé. Có lẽ, bài học đầu đời về sự nhận lãnh và tình yêu thương của mỗi con người đều bắt đầu từ chiếc muỗng của mẹ. Thuở còn chưa biết nghĩ suy, chiếc muỗng trong tay mẹ chính là nhịp cầu nối liền dòng yêu thương vào cơ thể bé bỏng của tôi.
Những buổi trưa hè oi ả hay đêm đông gió lùa, mẹ ngồi trên chiếc chõng tre thẫm màu năm tháng, một tay ôm con, một tay nâng chiếc muỗng nhẹ nhàng thổi cho thức ăn bớt nóng rồi cẩn trọng bón từng chút cháo, chút canh. Mỗi một muỗng thức ăn mẹ đưa qua môi là một lần mắt mẹ dõi theo, ngập tràn lo lắng. Khi con nuốt trọn và nhoẻn miệng cười, gương mặt mẹ mới giãn ra, lấp lánh niềm hạnh phúc giản đơn.
Chiếc muỗng sành cũ kỹ, lách cách chạm vào thành bát, đã cùng mẹ chắt chiu nuôi tôi khôn lớn qua những tháng năm dài. Mẹ đã dùng chiếc muỗng ấy để đong đếm từng ngày con lớn, dạy con biết thế nào là vị ngọt của dòng canh, vị mặn của tình thâm, trước khi buông tay để con tự cầm lấy chiếc muỗng cuộc đời mình.
Thời gian như bóng chiều hắt qua nương dâu, chiếc muỗng ngày xưa bón từng miếng nuôi con, giờ lại trở thành chứng nhân cho tuổi già của mẹ. Chiếc muỗng lách cách hôm nay không còn do tay mẹ cầm, mà nằm run rẩy trong đôi bàn tay gầy guộc, đầy những vết đồi mồi của mẹ già tóc trắng như mây.
Giờ đây, mỗi lần trở về quê, ngồi bên mâm cơm, lòng tôi thắt lại khi thấy mẹ khó nhọc cầm chiếc muỗng vụng về, canh tràn, cơm đổ. Đổi vai cho quá khứ, chú em út của tôi lại là người tranh phần đỡ lấy chiếc muỗng từ tay mẹ, nhẹ nhàng thổi từng muỗng cháo nóng như ngày xưa mẹ đã từng làm cho chúng tôi. Cái muỗng nhỏ bỗng chở nặng cả một vòng đời nuôi nấng và phụng dưỡng, đong đầy quy luật yêu thương thiêng liêng của tình mẫu tử.
Vai trò sinh tồn, yêu thương và kết nối
Lớn lên một chút, tôi tự cầm muỗng tập ăn, biết dùng muỗng chan mắm, chan canh. Ở quê tôi, “đại huynh” của muỗng được gọi là cái vá. Sau này lớn lên, lang thang xứ lạ, tôi mới biết người ta gọi muỗng bằng “thìa”, và cái vá được thay bằng một cái tên nghe rất tình: cái “môi”.
Chiếc muỗng ở vùng quê nghèo vốn chỉ đơn thuần là bạn thân của đứa trẻ nhỏ và chiếc chén sành; hoặc giả, nó sẽ nằm lặng lẽ trên chén nước mắm ớt tỏi giữa mâm cơm, làm nhiệm vụ kết nối và dung hòa khẩu vị cho từng thực khách. Một mối duyên thầm lặng khiêm nhường mà nhiều ý vị.
Rời quê lang bạt chốn thị thành, mỗi lần bước vào quán xá, tôi bỗng nhận ra chiếc muỗng đã khoác lên mình một nét văn hóa rất riêng.
Ở quê tôi, mỗi lần ăn bún hay mỳ Quảng, thực khách thường nồng nhiệt dùng cả hai tay bưng chiếc tô lên, áp vào môi húp thử tí nước nhưn ấm nóng, rồi chíp chíp miệng xem thử mặn lạt ra sao để tự tay nêm nếm cho phù hợp với khẩu vị từng người. Đó là cái ngon của sự phóng khoáng, chân chất.
Chốn thị thành lại khác. Trước khi dùng bữa, họ khẽ khàng dùng thìa múc một chút nước dùng, từ từ đưa lên miệng nhấm nháp để cảm nhận vị tinh túy của món ăn rồi mới thong thả thưởng thức một cách lịch lãm, cẩn trọng.
Xuống miệt vườn mới hay chiếc muỗng cũng hóa thân thành nhạc cụ trên đôi tay nghệ sĩ, nó chậm rãi hay dập dồn giữ nhịp bên cạnh cây guitar dìu tiếng hát những nghệ sĩ không chuyên tạo nên không khí cổ điển hòa cùng hiện đại giữa làng quê yên ả thanh bình.
Có lẽ từ khi người tiền sử khum khum hai bàn tay vục vào nước suối thì ý niệm chiếc muỗng đã thành hình. Và từ đó, chiếc muỗng hòa nhập vào cộng đồng văn hóa người trong vai trò sinh tồn, yêu thương và kết nối.