Hồ sơ - Tư liệu

Phi trường Chu Lai (1965-1967): Từ nhu cầu chiến thuật đến quy trình pháp lý “ngược”

VÕ HÀ 13/09/2026 09:19

ĐNCT - Được thành lập trong bối cảnh tình hình quân sự cấp bách đầu năm 1965 tại miền Nam Việt Nam, phi trường Chu Lai không chỉ là một căn cứ không quân khổng lồ mà còn gây ra cuộc xáo trộn lớn trong đời sống và tâm linh của hàng ngàn hộ dân vùng đất Quảng Tín (Quảng Nam) lúc bấy giờ.

picture1.jpg
Không ảnh căn cứ quân sự Chu Lai trước 1975. Ảnh: Tư liệu

Điều đáng quan tâm là qua các văn thư hành chính và sắc lệnh hồi tố cho thấy một quy trình pháp lý “ngược” khi thiết lập căn cứ hàng không Chu Lai.

Tiến trình giải tỏa và những rào cản thực địa

Việc thiết lập căn cứ hàng không Chu Lai được đề cập qua Văn thư số 65-22/4K/KI/D/M ngày 21/1/1965 của Nha Căn cứ Hàng không, đây là một văn bản có tính chất thăm dò, yêu cầu chính quyền tỉnh Quảng Tín báo cáo tình trạng đất đai tại khu vực dự kiến, bao gồm đất công thổ, đất tư nhân, mật độ dân cư, hoa màu. Phản hồi của tỉnh Quảng Tín tại Văn thư số 2016/HCTQ/3 ngày 13/4/1965 cho thấy một hiện trạng đầy thách thức: Khu vực này hoàn toàn không có công điền công thổ, thay vào đó là hơn 37 mẫu tư điền, 20 mẫu tư thổ và gần 58 mẫu hoa màu; có đến 1.200 nóc nhà với khoảng 2.500 dân đang sinh sống, báo hiệu một chiến dịch giải tỏa quy mô lớn và phức tạp.

Quá trình giải tỏa mặt bằng để xây dựng phi trường Chu Lai được chia thành nhiều đợt, mỗi đợt lại gắn liền với những biến động về tâm lý người dân và áp lực từ phía lực lượng quân đội Mỹ.

Giai đoạn kiểm kê từ tháng Năm đến tháng 6/1965 được bắt đầu khi cuộc họp ngày 1/5/1965 tại Lý Tín đã ấn định cơ sở đầu tiên cho giá biểu bồi thường. Mức giá ban đầu được đưa ra khá chi tiết, nhà tường gạch lợp ngói được đền bù 500 đồng/m², nhà rường 400 đồng/m2², trong khi đất ruộng hạng nhất chỉ ở mức 5 đồng/m². Tuy nhiên, dưới áp lực của cố vấn Mỹ, mức giá này sau đó đã bị cắt giảm xuống để phù hợp ngân khoản hạn hẹp với 18 triệu đồng dự chi ban đầu.

Kết quả kiểm kê đợt này thực hiện tại các ấp Hòa Vân, Định Phước, An Thiện, Thanh Trà, Long Bình, Đông Yên (xã Kỳ Liên) cho thấy quy mô khủng khiếp: 1.706 mẫu đất công điền, 568 mẫu đất tư điền, 1.500 nóc nhà và đặc biệt là 30.000 ngôi mộ phải di dời. Tổng số tiền chi trả thực tế đã vọt lên hơn 36 triệu đồng, vượt xa dự tính ban đầu.

Càng mở rộng diện tích phi trường, những mâu thuẫn giữa nhu cầu quân sự và quyền lợi dân sinh càng trở nên gay gắt. Trong các đợt mở rộng tiếp theo, việc quân đội Mỹ lấn ranh giới xã Kỳ Liên, gây thiệt hại hoa màu và lấn chiếm đất đai của dân chúng Kỳ Hà đã khiến mâu thuẫn gia tăng gay gắt.

Đỉnh điểm của sự kháng cự là khi dân chúng Kỳ Hà đưa đơn lên các tướng lãnh Việt - Mỹ, tuyên bố sẵn sàng tự tử hoặc đấu tranh bằng gậy gộc để bảo vệ làng mạc. Trước tình hình này, một quyết định mang tính thỏa hiệp đã được đưa ra, không giải tỏa “Khu Tứ giác” tại Kỳ Hà mà chỉ thiết lập một con đường xe chạy xuyên qua để giảm thiểu tác động đến đời sống cư dân.

Những con số và nỗi lo dân sinh

Danh mục bồi thường đã phản ánh phần nào giá trị kinh tế của vùng đất Quảng Tín thập niên 1960. Sau khi áp đặt mức giảm giá, nhà tường gạch lợp ngói chỉ còn 290 đồng/m²; nhà xây xông lợp tôn còn 230 đồng/m². Giá trị cây trồng được tính toán cụ thể: xoài, mít, dừa đạt 200 đồng/cây; chè, thơm chỉ 1 đồng/cây.

Đặc biệt, việc di dời 30.000 ngôi mộ trong thời gian ngắn với mức đền bù từ 300 đến 1.000 đồng/mộ không chỉ là khối lượng công việc hành chính khổng lồ mà còn gây ra một cuộc “xáo trộn tâm linh” sâu sắc đối với cộng đồng cư dân Kỳ Liên.

Biến động về khung giá đền bù cho thấy, dù chính quyền tay sai sở tại ban đầu đề xuất mức giá dựa trên thực tế, nhưng quyền tự quyết đã bị tước bỏ trước áp lực tài chính và yêu cầu xây dựng cấp tốc từ phía Mỹ. Sự lệ thuộc này trực tiếp dẫn đến những tổn thương về quyền lợi của người dân. Trên thực tế, nhiều gia đình không nhận được tiền bồi thường kịp thời do sai sót kiểm kê hoặc do phải di dời quá gấp.

Hợp thức hóa bằng văn bản pháp quy

Sau gần hai năm hoạt động (1965-1967), thực tế dưới danh nghĩa một căn cứ quân sự được xây dựng cấp tốc, phi trường Chu Lai mới chính thức có được “giấy khai sinh” về mặt pháp lý, tức làm trước hợp thức hóa sau.

Ngày 23/3/1967, thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương đã ký Sắc lệnh số 62-SL/QP nhằm hợp thức hóa sự tồn tại của phi trường này. Sắc lệnh bao gồm 4 điều khoản quan trọng, trong đó Điều 1 ghi: “Hợp thức hóa việc thiết lập phi trường quân sự Chu Lai kể từ ngày 1/6/1965 (hồi tố lại thời điểm bắt đầu xây dựng)”; Điều 2: Đặt phi trường dưới quyền sử dụng trực tiếp của Bộ Quốc phòng; Điều 3: Chính thức áp dụng luật lệ về “truất quyền tự hữu” (trưng dụng đất) đối với các diện tích đã giải tỏa, coi đây là công tác mang tính cách công ích quốc gia; Điều 4: Phân định trách nhiệm thi hành cho các Tổng Ủy viên Quốc phòng, Xây dựng, Giao thông Vận tải và Tài chính.

Qua đây cho thấy quy trình hành chính “ngược” khi việc chiếm dụng và xây dựng diễn ra trước theo yêu cầu của chiến tranh, còn các thủ tục pháp lý, bồi thường và sắc lệnh hợp thức hóa theo sau để bù đắp những khoảng trống về luật pháp. Đây là một thủ thuật pháp lý để khỏa lấp việc “chiếm dụng trước, ký giấy sau”, hay nói cách khác pháp luật lúc này không dẫn dắt thực tế, mà chỉ chạy theo để thu dọn những hệ quả của thực tế chiến tranh.

Quá trình hình thành phi trường Chu Lai là một điển hình cho sự va chạm giữa hạ tầng quân sự hiện đại và đời sống nông thôn truyền thống. Nó không chỉ là những con số về tiền bạc, diện tích mà có cả những tiếng nói của dân chúng trước nguy cơ mất trắng làng mạc.

Việc thành lập phi trường này đã làm thay đổi diện mạo địa chính trị, quân sự của vùng Lý Tín - Quảng Tín, biến vùng cát trắng ven biển thành một trong những căn cứ không quân lớn nhất thời bấy giờ ở miền Nam.

VÕ HÀ