Truyện ngắn

Bài học đầu tiên

NGUYỄN THỊ BÍCH NHÀN 13/09/2026 10:30

ĐNCT - Mãi đến bây giờ, sau rất nhiều năm thì giữa trán tôi - vẫn còn một vết sẹo. Vết sẹo nằm giữa hai chân mày quả là rất mất thẩm mỹ với một cô giáo.

BAI HOC DAU TIEN
Minh họa: HOẢNG ĐẶNG

Bạn bè nói muốn đẹp dễ òm rồi khuyên cà bỏ; nhưng tôi không muốn. Đẹp hơn thì cô gái nào chẳng muốn.

Nhưng tôi không cố gắng tìm cách che đậy những gì thuộc về sự thật, đó là bản sắc tôi.

Mà biết đâu vết sẹo đó lại tốt với một người mỗi ngày đều đứng trên bục giảng như tôi, sẽ là một đồ dùng dạy học sống khi mang trên trán dấu vết của bài học đầu tiên mình từng nhận. “Người thầy” đã dạy cho tôi bài học đầu tiên đó là một con khỉ nhỏ.

Hồi đó, nhà tôi ở gần chợ. Cái chợ nhỏ, chỉ họp buổi sáng.

Đối diện chợ là một khoảng đất rộng được lát gạch, xung quanh xây tường kín mít, chỉ có lối vào là cái cổng, dân trong vùng tự đặt tên là Sân Bãi.

Bên trong Sân Bãi, người ta xây một khối vuông rộng gấp đôi sân nhà, cao hơn đầu người, có tam cấp lên xuống ở hai bên hông để làm sân khấu.

Phía sau sân khấu là một dãy nhà với những gian phòng nhỏ, chỉ có vách ngăn, không có cửa.

Sân Bãi trở thành trung tâm giải trí của xã, nơi các đoàn ca nhạc, cải lương, xiếc, lô tô về biểu diễn. Những ngày đó rộn ràng lắm.

Một đoàn về lưu trú thường tới mấy đêm lận. Từ chiều đã có xe đi loa loa khắp làng trên xóm dưới. Buổi tối sân bãi đông nghịt người.

Bên ngoài người ta bày các rổ cốc, ổi, xoài, me… Bên trong ánh đèn nhay nháy đủ màu, ca sĩ mặc đầm voan, đính kim tuyến dài ngắn các kiểu để hát hò, nhảy múa.

Hấp dẫn nữa là “tiết mục” ban ngày. Khi không còn hóa thân, người của đoàn sẽ tạm trú ở những gian nhà sau sân khấu.

Tôi và mấy đứa rất phấn khởi khi được gặp “hoàng hậu”, “nhà vua”, “hoàng tử”, “tướng quân”, “công chúa”, “tiểu thư” ăn uống giữa ban ngày, không ánh đèn, không son phấn.

Nên tối đi coi đã đành, ban ngày lũ nhóc lại ra Sân Bãi, giả bộ loanh quanh như đang tìm cái gì bị đánh mất nhưng đích thị là để nhìn những người trên sân khấu đang sống cuộc sống thật.

Đợt đó, có một đoàn xiếc thú về Sân Bãi, chỉ diễn một đêm nên sân bãi chật cứng.

Những người dân đồng ruộng được tận mắt nhìn voi, khỉ, chó, cá sấu… làm trò.

Tính tôi hay lục lọi, bèn lách người, chui gần tới sân khấu coi cho đã mắt.

Mà đâu chỉ nhìn sân khấu, tôi còn tranh thủ tia mắt nhìn ở bất cứ chỗ nào có thể nhìn được.

Kết quả tôi nhìn thấy ở một gian nhà cuối dãy, có một ông già và con khỉ, nhìn bề ngoài của cả hai thì biết họ nằm trong tốp dự bị rồi, và tôi quay lại cười với trò đá bóng vui nhộn trên sân khấu của hai chú khỉ.

Sáng đó, như thường lệ, lũ nhỏ chúng tôi rủ nhau ra lòng vòng Sân Bãi, để coi cảnh người ta thu xếp, chuyên chở những con thú.

Nhưng khi tất cả đã xong xuôi, hai chiếc xe lớn rời đi, tôi phát hiện vẫn còn ông già và con khỉ ở gian nhà nhỏ mà đêm hôm ấy tôi thấy.

Có cái gì đó là lạ, cũng như bao lần, tôi về méc mẹ liền.

Bữa cơm trưa hôm đó, mẹ bổ sung thông tin lúc sáng tôi kể: Đó là con khỉ của một người hành khất.

Một ông già ốm yếu, và có lẽ mù lòa. Mẹ nói, cũng không dám chắc ổng có mù thật không, chỉ thấy mắt cứ nhướng nhướng, trắng đục, không nhìn về hướng nào mà cứ nhìn thẳng về phía trước.

Có bà đi chợ bảo, người ta giả mù để ăn xin cho tiện. Nếu mù sao dắt con khỉ vô chợ được?

Mẹ nói: Không, không vào, chỉ đứng ngoài cổng.

Sáng hôm sau, tôi chạy ngay ra cổng chợ tìm ông già và con khỉ.

Tôi đã khựng chân lại khi thấy một ông già ngồi bệt trên nền đất bên cổng chợ; còn con khỉ nhỏ thì chồm bu trên vai.

Bà bán ở chợ nói, ông già và con khỉ theo xe đoàn xiếc đến đây rồi ở lại.

Mấy ông trong đoàn nói cứ như vậy, muốn đi từ nơi này đến nơi khác, ổng và con khỉ theo xe, bất cứ xe nào có thể theo được.

Đến chỗ mới ở một thời gian, nếu thấy có chiếc nào theo được sẽ đi tiếp.

Tôi nghe vậy, không hiểu gì nhiều đâu. Tôi chỉ nghĩ đời này không phải ai cũng có cuộc sống giống ai.

Mình thích ở nhà, có người lại thích đi từ nơi này đến nơi khác.

Cũng có thể ông già chẳng có nhà cửa, chẳng ai thân thích ngoài con khỉ, nếu không chọn sống vậy thì biết sống sao?

Đứng trước mặt ông già và con khỉ, tôi không nghi ngờ gì nữa, mà nghĩ ông già mù thật.

Vì tôi đứng trước mặt, nhưng mắt ông vẫn nhìn đi đâu, hai con ngươi trong mắt bất động.

Còn con khỉ, nó lanh lợi nhưng hơi gầy. Nó đeo chiếc vòng cổ làm bằng da. Móc vòng buộc sợi xích sắt. Đầu xích quàng vào cổ tay ông lão.

Như vậy, ông có thể giữ nó; còn nó, có thể dắt ông đi.

Hai kiếp, người - khỉ gắn liền, nương tựa nhau bằng sợi xích. Ông già giữ con khỉ nhưng cũng chính con khỉ đang dẫn ông già.

Lũ tui thấy là lạ, hay hay. Con khỉ từ rừng xuống chợ đã là chuyện lạ. Khỉ buộc với người - lại càng lạ hơn.

Và cái sự lạ ấy khiến chúng tôi - nghĩa là tôi và bọn trẻ ranh cùng xóm - hết sức quan tâm, hết sức hiếu kì.

Chúng tôi thể hiện sự quan tâm hiếu kì đó bằng cách ngắm nghía, chỉ trỏ, trêu chọc. Con khỉ cũng nhiệt tình tương tác, bọn tôi khoái chí, cười sằng sặc…

Sáng nào, con khỉ cũng lon ton dắt ông lão từ trong Sân Bãi ra cổng chợ.

Ông lão ngồi bệt xuống đất, bỏ chiếc thau nhôm móp méo trước mặt, chỉ để vậy chứ không lải nhải van xin bằng giọng rên xiết của người cùng đường đất sinh nhai.

Ông lắc sợi dây đang trên tay mình, nhắc con khỉ giờ đã đến lượt nó “biểu diễn”.

Con khỉ nhảy nhót qua lại, như đã thuộc lòng giới hạn của sợi dây. Bước chân nhanh chậm của nó phụ thuộc vào sự chuyển động của cánh tay ông lão.

Con khỉ thông minh hơn chúng tôi tưởng, nó không chỉ biết vung múa, chơi bời, đùa nghịch mà còn biết gợi ý xin tiền.

Nó nhảy múa, chọc cười lũ tôi nhưng thấy có người đi ngang, nó liền khọt khẹt, chìa tay, xìa chân, hất vào chiếc thau nhôm rồi làm điệu bộ nhún nhường, biết ơn.

Biểu cảm của nó là biểu cảm của lời cảm ơn tha thiết.

Cái bộ điệu láu lỉnh, dễ thương của nó khiến người ta cho nhiều hơn là bộ dạng nghèo khổ của ông lão mù lòa.

Con khỉ rất lễ phép. Ai cho thì nó gật đầu cảm ơn, đưa gì nó cũng cầm, có điều nó chỉ ăn những thứ mà loài khỉ có thể ăn ngay.

Còn lại, nó đều ném vào thau cho ông lão.

Sau những lần đứng quan sát, tôi biết món khoái khẩu của chú là chuối và… kẹo.

Nếu được ai xìa trái chuối là mắt nó long lanh, cầm liền. Nhưng nó không ăn vội, nó đưa ông lão, chắc nó biết, món đó ông chủ cũng ăn được.

Còn nếu được cho kẹo, nó mới sung sướng cười nhăn nhở, lột giấy từng viên, cho tất vào miệng; chiếc túi bên má thòng ra, lổn nhổn những viên kẹo bên trong trông thật tức cười!

Biết được sở thích đó, tôi và mấy đứa cũng muốn làm thân với khỉ nên nếu nhà có chuối, hay được cho cái kẹo cũng ăn nhín, để dành rồi chạy te ra căn phòng nhỏ ngoài Sân Bãi tìm cho khỉ.

Giống khỉ cũng dễ nhớ mặt và trọng tình cảm nên được cho vài lần, những lần sau thấy bóng lũ nhóc ở đằng xa là khỉ ta đã nhảy chồm, tay vẫy vẫy rất nồng nhiệt.

Nhưng lũ nhóc chúng tôi đâu chỉ ham vui, mà còn khoái nghịch.

Và khi đã chán trò chỉ trỏ, trêu chọc, cũng không còn chuối, kẹo để cho, chúng tôi đã “nghiên cứu” ra trò mới để giải sầu.

Tôi còn nhớ, hôm ấy là một ngày mùa đông. Mưa và lạnh.

Mùi tanh bẩn ở chợ bốc lên, những cọng rác bay lả tả. Người đi chợ thưa thớt, vội vã; chẳng ai thèm quan tâm đến ông lão cùng con khỉ rét run đang thu lu nép mái nhà lồng.

Đã non trưa mà chiếc thau nhôm trống trơn, chẳng xin được gì. Chợ vãn, chỉ còn ông già và con khỉ.

À, không! Quanh người hành khất và con khỉ tội nghiệp ấy là chúng tôi - mấy đứa rỗi nghề, thích pha trò.

Một thằng đầu têu bỗng nảy ra “sáng kiến”. Nó gọi chúng tôi chụm đầu bàn bạc, đứa nào cũng cười hi hí ra vẻ khoái chí lắm.

Tất cả tản đi, mỗi đứa đảm nhận một khâu cho “sáng kiến” được hoàn thành nhanh nhất.

Mười lăm phút sau, chúng tôi tập trung trở lại; tay đứa nào cũng cầm nào chuối, nào kẹo, dứ dứ vào mũi khỉ.

Đã chẳng ăn gì từ sáng, con khỉ đói mềm thấy chuối, thấy kẹo vụt sáng mắt, hớn hở chìa tay xin mà đâu biết chúng tôi nặn một quả chuối bằng đất sét rồi lấy vỏ chuối bọc bên ngoài.

Cầm quả chuối, nó khọt khẹt, đôi mắt nhìn chúng tôi rất đỗi biết ơn, rồi nó gật đầu lia lịa như để cảm tạ rồi cuống cuồng lột vỏ... Lạ chưa!

Nó thuỗng mặt ngơ ngác. Lớp vỏ bóc, bên trong thòi ra toàn… đất sét! Vứt bạch quả “chuối đất”, khỉ chìa tay nhận kẹo.

Lại càng tệ hại. Bên trong những tờ giấy bóng xanh đỏ là đất, là đá, là gạch...

Tiếng cười nổi lên hô hố từ những đứa trẻ. Con khỉ tội nghiệp mắt đỏ ngầu, khọt khẹt thảm thương như muốn khóc.

Làm khán giả, cười chưa “đã”; đến lượt tôi, mặc kệ gương mặt bi thiết của con khỉ, tôi hào hứng chen vô, chìa ra nắm “kẹo”.

Con khỉ nãy giờ thấy tôi không tham gia trò lừa nên nó đã tin, chìa tay lấy và cảm ơn.

Giờ thì các bạn đã đoán ra vì sao tôi có cái vết sẹo “nhớ đời” rồi chứ?

Vâng, chính là con khỉ mới cảm động nhận kẹo từ tay tôi ấy.

Nó lột kẹo ra. Vẻ hiền lành đột ngột biến mất.

Chắc đã qua giới hạn mà nó nhịn được.

Nó chồm lên, dữ dằn, mắt vằn tia máu - đôi mắt tôi chỉ nhìn thấy ở ba tôi mỗi khi tôi phạm lỗi tày đình.

Bọn bạn kịp bỏ chạy.

Còn tôi, con khỉ gầm gừ, bấu vào đầu tôi mà cắn xé, nhất định không buông…

Và sau đó là máu.

Tôi về nhà với một vết thương giữa trán.

Vết thương ấy sau này thành sẹo.

Lúc nhỏ, mỗi lần soi gương, thấy một đường sẹo vô duyên nằm chình ình giữa hai chân mày, tôi thấy mình xấu gái nên muốn loại bỏ.

Nhưng lần soi gương sau không giống lần soi gương trước nữa.

Lớn hơn một chút, mỗi lần nhìn gương tôi lại thấy con khỉ nhỏ và đôi mắt vằn tia máu đang hướng về mình…

Chuyện đã qua lâu rồi. Giờ đây, tóc tôi đã bắt đầu có sợi bạc; nhưng ký ức về ông già mù và con khỉ nhỏ hãy còn mới tựa hôm qua.

Bài học đầu tiên, tôi đã trả giá bằng một vết sẹo trên trán.

Giữ vết sẹo, cũng đồng nghĩa tôi giữ mình trước những vết sẹo tâm hồn.

Và bài học của con khỉ đã thành bài học nghề nghiệp đắt giá của cô giáo là tôi...

NGUYỄN THỊ BÍCH NHÀN