Hồ sơ - Tư liệu

Dọc ngang trời lửa, vẹn nghĩa đời nhau

NGUYỄN ĐÔNG 20/09/2026 09:30

ĐNCT - Trong căn nhà nhỏ gần sân bay lưỡng dụng Đà Nẵng, nơi Sư đoàn 375 đóng quân, người lính già ngoài 80 tuổi ngồi lặng bên chén trà. Đôi mắt nheo lại, ánh lên nét quắc thước của một thời trận mạc.

anh1a(1).jpg
Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nguyễn Lành ở tuổi 83. Ảnh: N.Đ

Ngoài kia là khoảng trời Đà Nẵng thanh bình. Nhưng trong lồng ngực người chỉ huy tên lửa năm xưa, nhịp đập cabin chiến đấu chưa bao giờ nguội lạnh. Mùi dầu máy nồng khét, khói đạn cay xè và những khoảnh khắc đối mặt tử thần vẫn tươi ròng như vừa hôm qua. Ông là Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Lành.

Kỷ lục “người Việt Nam số 1”

Nguyễn Lành sinh năm 1943 tại Đức Phổ, Quảng Ngãi. Mảnh đất cằn rát gió Lào hun đúc nên cái nết bộc trực, khảng khái. Cha là du kích Ba Tơ vào đảng năm 1930. Cuối năm 1954, cậu bé 11 tuổi gạt nước mắt, gom vội manh áo theo dòng người tập kết ra Bắc. Chữ nghĩa ít ỏi, cậu trầy trật đuổi kịp bạn bè. Học hết trung học, ông chủ động không học đại học và được Ban Thống nhất Trung ương cho đi học lớp sử dụng điện báo/vô tuyến điện để phục vụ đài Giải phóng.

Năm 1965, Mỹ leo thang ném bom miền Bắc dữ dội. Lệnh Tổng động viên ban ra, chàng trai đất Quảng tòng quân. Cuối năm đó, Trung sĩ Lành lên tàu liên vận xuyên Mãn Châu Lý sang Liên Xô, tập kết bên bờ biển Caspi (Azerbaijan), huấn luyện chiến đấu tên lửa SAM-2. Ban đầu thuộc biên chế kỹ thuật viên phát lệnh, nhưng sau ba tháng học lý thuyết, thấy ông nhạy bén đặc biệt với cơ điện tử, chuyên gia Liên Xô đặc cách chuyển ông sang đào tạo sĩ quan điều khiển - vị trí “bộ não” giữ quyền bấm nút phóng đạn.

Tên lửa lúc bấy giờ là vũ khí tối tân nhất. Khí tài niêm phong tuyệt đối. Ban ngày, ông căng mắt quan sát kỹ từng rơ-le, núm xoay của 16 khối máy. Đêm về, ông vẽ lại sơ đồ từ trí nhớ, biến phòng ngủ thành cabin dã chiến, dùng bìa carton làm mục tiêu tập thao tác tay đến mức nhắm mắt vẫn chạm chuẩn từng công tắc.

Cuối khóa huấn luyện là những giờ cân não bắn đạn thật trên sa mạc. Hai mục tiêu một bay cao 18km, một lướt thấp 500m. Quy chuẩn Liên Xô khi đó là 3 quả đạn cho một mục tiêu. Nguyễn Lành tính điểm đón, quyết định liều lĩnh chỉ dùng 1 quả cho mỗi cự ly. Nút bấm dập xuống. Khói xé toạc sa mạc. Cả hai mục tiêu rụng gọn gàng sau đúng hai phát bắn.

Trường bắn vỡ òa. Sĩ quan giám sát Liên Xô ôm chầm lấy ông, hô lớn:“Số 1 rồi! Tuyệt vời người anh em Việt Nam!”. Trung tá tham mưu trưởng bãi bắn nhấc bổng ông lên vai, công kênh chạy một mạch gần 500 mét cát nóng về sở chỉ huy. Học viên Lành đã tạo ra kỷ lục vô tiền khoáng hậu: hạ 2 mục tiêu chỉ bằng 2 phát đạn.

Khắc tinh của tên lửa Shrike

Năm 1966, ông Lành về nước chiến đấu trong biên chế Tiểu đoàn 67, Trung đoàn tên lửa 275. Sau những chiến thắng trận đầu, nhiều kíp xe đụng ngay đòn độc: tên lửa AGM-45 Shrike của Mỹ, chuyên bám cánh sóng radar đánh thẳng vào đài chỉ huy. Ông Lành nhận định “mở sóng 15 giây theo sách vở là tự sát”, và khi thực chiến tiểu đoàn đã mất trắng hai kíp chiến đấu. Máu gan lì trỗi dậy, ông Lành dứt khoát “không thể đánh rập khuôn”.

Nguyễn Lành sáng chế cách “đánh gấp”. Radar bắt mục tiêu từ xa rồi lập tức tắt sóng. Vài giây sau mở chớp nhoáng lấy lại đường bay rồi dập ngay. Đến lúc quyết định, kíp xe chỉ mở sóng vỏn vẹn 3 giây để khóa và phóng tên lửa. Để lính vững tâm, ông cấm hô “có Shrike”, đổi thành mật ngữ: “Có tín hiệu lạ!”.

Đêm tháng 3/1968, tại trận địa Cây Đa (Nghệ An). Chiếc F-4 lọt vào cự ly 18km. Ông cho phóng liền hai quả đạn. Lập tức, đối phương bắn trả hai quả Shrike xé gió lao thẳng vào đài chỉ huy. Màn hình nhảy loạn. Trắc thủ hét:“Tín hiệu lạ!”. Cấp trên lệnh dập sóng khẩn cấp! Tắt sóng là đạn mất lái, F-4 thoát, bom sẽ dội nát trận địa. Hai tay ông Lành ghì chặt cần anten: "Chết cùng chết! Giữ nguyên sóng!".

Canh bạc tính bằng phần trăm giây. Tay vê nút, mắt găm màn hiện sóng. Bùm! Chiếc F-4 nổ tung giữa trời đêm! Ngay tích tắc ấy, ông giật mạnh cần anten, dập phụt nguồn phát. Mất điểm tựa sóng, hai quả Shrike rơi lệch hướng, nổ cách cabin 150m và 300m. Đất đá dội rào rào lên nóc sắt. Xe an toàn tuyệt đối. Kíp chiến đấu ôm nhau trào nước mắt. Ông được Bác Hồ tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, đồng đội gọi luôn là “Liều Văn Lành”.

Ông Lành tỏ ra thích thú với biệt danh này, bởi một phần tính cách người Quảng đã quyết là đánh tới cùng. Nhưng đánh phải dùng đầu óc tính toán chi tiết, bởi nếu sai thì không chỉ mình hy sinh mà cả kíp chiến đấu 70-80 đồng đội. Tư liệu ghi hình trận đánh được chuyển về Hà Nội phân tích, giúp Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân chuẩn hóa thành phương pháp "đánh nhanh có chuẩn bị" và phổ biến toàn quân chủng nhằm khắc chế tên lửa Shrike.

Cuối năm 1971, tuyến vận tải Trường Sơn nghẽn mạch vì “pháo đài bay” AC-130 săn đêm bằng cảm biến hồng ngoại. Tiểu đoàn phó Nguyễn Lành dẫn kíp xe vượt đèo Mụ Giạ sang Bắc Xê-pôn (Nam Lào), đánh chặn. 180km đường rừng đứt xích, suýt lao vực. Tới nơi chỉ còn vỏn vẹn 2 quả đạn. Nhận thấy bắn đuổi theo vòng lượn elip không hiệu quả, ông chuyển sang phục kích đón đầu: Phóng đạn khi máy bay lượn vòng ra ngoài để tên lửa đâm trúng buồng lái lúc nó vừa ôm cua vào trong ở cự ly 12km.

Đúng 3 giờ sáng ngày 29/3/1972, giữa màn nhiễu đặc, trắc thủ bắt trúng mục tiêu. Lệnh phát ra, sĩ quan điều khiển Hà Viết Bá ấn nút. Chiếc AC-130 trúng đạn bốc cháy như đuốc khổng lồ, cắm thẳng xuống đại ngàn Xê-pôn. Ngay sau trận đánh, Tư lệnh Đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên gửi điện biểu dương, thưởng nóng cho đơn vị một con bò, 7 tấn lương khô cùng chiếc đài bán dẫn National - gia tài vô giá giữa rừng thiêng.

Cũng từ sau chiến công này, trên tuyến đường Trường Sơn không còn thấy bóng dáng máy bay AC-130 nữa. Đường 12 và đường 20 Quyết Thắng thông suốt, dồn dập chi viện quân, vũ khí, lương thực, thuốc men cho mặt trận Quảng Trị, phục vụ chiến dịch năm 1972. Điều ông Lành tự hào, là việc bắn rơi chiếc AC-130 đã giúp nâng tầm ảnh hưởng của Tiểu đoàn 67 từ một đơn vị hỏa lực tác chiến độc lập lên thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn chiến thuật ngang cấp trung đoàn.

Đại tá Nguyễn Lành (thứ hai, phải sang), cùng kíp chiến đấu tiêu diệt AC-130. Ảnh: Tư liệu

Mối oan nửa thế kỷ của người trắc thủ

Chiến tranh lùi xa, nhưng vết thương lòng của người chỉ huy chưa liền miệng. Nỗi trăn trở của ông là hàng chục đồng đội ngã xuống rải rác giữa rừng sâu. Nhức nhối nhất là câu chuyện của người trắc thủ cự ly Nguyễn Văn Chuột.

Năm 1967, tại trận địa Cẩm Giàng (Hải Dương), máy bay Mỹ dội bom bất ngờ, hất tung công sự. Chiến sĩ Nguyễn Văn Chuột hy sinh tại chỗ, thi thể cháy sém, áo quần rách bươm. Quá xót xa, người đồng đội cùng kíp xe với ông Lành là trắc thủ cự ly Nguyễn Văn Ngợi cởi phăng chiếc áo quân phục lành lặn của mình trùm lên thi hài bạn. Đơn vị phải cơ động gấp, việc an táng bàn giao cho dân quân địa phương. Khi khâm liệm, dân quân thấy trong túi áo có mảnh giấy ghi tên: Nguyễn Văn Ngợi.

Thế là giấy báo tử được gửi về quê ông Ngợi. Gia đình làm ma chay, người vợ khóc cạn nước mắt nhưng linh tính mách bảo chồng còn sống. Quả nhiên, ông Ngợi gửi thư từ chiến trường về, tiếp tục chiến đấu đến ngày toàn thắng. Gia đình đoàn tụ. Tấm giấy báo tử nhầm lẫn của ông Ngợi sau đó bị hủy bỏ.

Nhưng tấn bi kịch lại ập xuống gia đình ông Nguyễn Văn Chuột. Ông Chuột nằm lại đất lạnh không tên tuổi, giấy tờ tùy thân của tiểu đoàn cũng bị bom đánh cháy sạch. Khi rà soát hồ sơ, không tìm thấy bằng chứng cụ thể, đơn vị đành ghi vào danh sách mất tích. Suốt mấy mươi năm, mẹ già mòn mỏi ngóng con, đứa con gái lớn không được hưởng chế độ liệt sĩ, lý lịch gia đình bị ngờ vực.

Mãi nhiều năm sau ngày hòa bình, ông Ngợi - lúc này đã là Chủ tịch xã - tình cờ ghé thăm nhà ông Chuột mới bàng hoàng thấy không có bàn thờ liệt sĩ. Đứa con gái nghẹn ngào kể cha mình bị báo mất tích. Ông Ngợi chết lặng. Chiếc áo năm xưa ông cởi đắp cho bạn đã vô tình tước đoạt danh phận liệt sĩ của đồng đội.

Ông Ngợi lặn lội vào Đà Nẵng tìm lại người chỉ huy cũ Nguyễn Lành. Nghe chuyện, ông Lành nghẹn họng: "Chuột hy sinh ngay trước mắt tôi, cớ sao lại là mất tích?". Rồi ông Lành quyết đi làm chứng. Nhưng quy định xét duyệt ngặt nghèo đòi hỏi phải có đủ ba chữ ký xác nhận của chỉ huy trực tiếp thời điểm hy sinh. Một người đã khuất, ông Lành là người thứ hai, vụ việc rơi vào ngõ cụt.

Chất lính trận quyết liệt lại bốc lên, ông Lành bảo ông Ngợi: "Còn một người nữa! Là Đại tá Nguyễn Hữu Hùng, nguyên Chính ủy đầu tiên của Trung đoàn 275, hiện nghỉ hưu ở Hà Nội. Cậu phải ra tìm cụ bằng được!". Hai cựu binh lập tức tìm đến nhà cụ Hùng. Đọc lá đơn tường trình do chính tay ông Lành viết, vị cựu Chính ủy rưng rưng nước mắt, đặt bút ký vào dòng xác nhận lịch sử. Sau gần nửa thế kỷ mang án "mất tích", liệt sĩ Nguyễn Văn Chuột chính thức được trả lại danh dự bằng tấm Bằng Tổ quốc ghi công đỏ thắm. Mối oan của người nằm gai nếm mật được gột rửa bằng chính nghĩa khí của những người còn sống.

Trong phòng khách của vị Đại tá Anh hùng hôm nay, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng tủ kính trưng bày huân chương hay bằng khen cá nhân. Nơi cao nhất, trang nghiêm nhất, ông dành trọn để thờ Bác Hồ.

Nhìn ra khoảng trời miền Trung lộng gió, người lính già xứ Quảng khẽ vuốt cằm, giọng chùng xuống: "Mình sống sót trở về lành lặn sau mưa bom bão đạn đã là cái phúc quá lớn. Cái danh Anh hùng hay chiến công bắn rơi máy bay là máu xương của tập thể, của bao anh em tan vào lòng đất. Mình còn thở ngày nào, thì phải sống cho trọn nghĩa vẹn tình với những người đã nằm lại phía bên kia chân trời...".

NGUYỄN ĐÔNG