Niềm tự hào của quê hương xứ Quảng
ĐNCT - Xứ Quảng tự hào là quê hương của cụ Huỳnh Thúc Kháng - một đại khoa trong học giới, chí sĩ yêu nước nổi tiếng trong Phong trào Duy tân, nhà hoạt động văn hóa xuất sắc.

So với những người đồng chí, đồng hương xứ Quảng: Nguyễn Thành, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp... đau đáu với vận mệnh nước nhà cho đến tận ngày cuối đời thì cụ Huỳnh là người có cái hạnh phúc tận mắt thấy được lịch sử dân tộc đã mở sang một trang mới “thoát thân nô mà làm chủ nhân ông”, và tiếp tục ra gánh vác việc nước, đóng góp vào công cuộc kháng chiến kiến quốc, xây dựng và giữ vững nền dân chủ cộng hòa ngay từ giai đoạn đầu còn non trẻ.
Tìm đường cứu nước mới
Huỳnh Thúc Kháng cùng với những người đồng hương, đồng chí của mình là Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và những sĩ phu thức thời khác muốn tìm đến một phương thức cứu nước mới. Đó là khởi xướng Duy tân cải cách về văn hóa - xã hội, chủ trương khai thông dân trí, chấn hưng dân khí, chăm lo dân sinh, bồi dưỡng dân quyền, đề cao tinh thần hợp quần, tự trị, tự cường để đi đến tự do trong hoàn cảnh đất nước đang bị thực dân Pháp đô hộ.
Tư tưởng Duy tân khi vào quần chúng đã trở thành sức mạnh tinh thần, đưa đến sự phát triển nhanh chóng, rộng khắp của Phong trào Duy tân không những trên địa bàn xứ Quảng mà còn ảnh hưởng khắp nước và tư tưởng đó một khi đi vào quảng đại quần chúng đã vượt qua chủ trương ban đầu của những nhà khởi xướng, dẫn đến phong trào chống thuế “như nước lụt vỡ đê” khắp các tỉnh miền Trung.
Thực dân Pháp và Nam triều lo sợ, tiến hành đàn áp khốc liệt. Cùng với Phan Châu Trinh và nhiều sĩ phu yêu nước khác, cụ Huỳnh bị bắt đày ra Côn đảo. Nhưng trong suốt 13 năm tù đày, cụ vẫn giữ vững ý chí: “Dầu đến lúc núi sụp biển lồi, trời nghiêng đất ngã/ Tấm lòng vàng tạc đá vẫn chưa mòn/ Trăng kia khuyết đó lại tròn” (Bài ca lưu biệt).
Sau khi ra tù về, cụ Huỳnh vẫn tìm phương cách mà cụ nghĩ là có thể thực hiện được để thể hiện tấm lòng ái quốc, thương dân. Với hơn 2 năm ở Viện Dân biểu Trung Kỳ và 16 năm làm Báo Tiếng Dân, dẫu có “nhận lầm 4 chữ Nhân dân đại biểu” và cái gọi là “tự do ngôn luận”, nhưng trong thời gian đó cụ cũng đã thể hiện “một tấm lòng son” đối với đồng bào mình là cố gắng hết sức đem tình trạng uẩn khuất, thống khổ của nhân dân, những tệ trạng của nhà cầm quyền, những đề đạt của dân đưa ra nghị trường và phô bày lên mặt báo.
Cụ cũng không bỏ qua bất cứ một dịp nào để nói lên nguyện vọng thiết yếu của nhân dân mỗi khi có Ủy ban Điều tra của Nghị viện Pháp sang Đông Dương, với mong muốn may ra nhà cầm quyền Pháp có sửa đổi chút gì về chính sách cho dân dễ thở hơn chăng. Đồng thời cũng cố gắng thông qua tờ Báo Tiếng Dân mà thức tỉnh đồng bào, kêu gọi lòng yêu nước, cố nhiên là với sự khéo léo, thận trọng để vừa có lợi cho dân cho nước, vừa không để cho chính quyền thực dân ngăn cấm.
Trọn đời vì nước, vì dân
Bế tắc trong đường lối “chánh trị cách mạng công khai”, những năm cuối đời cụ Huỳnh vẫn mong sẽ “có những người trong đồng quê núi thẳm xuất đầu lộ diện” để cứu nguy cho dân tộc, và rồi cụ rất đỗi vui mừng về nền độc lập của nước nhà, như cụ đã trả lời đoàn thanh tra Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Huế cuối năm 1945: “Quả nhiên Việt Minh ra đời như lòng tôi đã cầu nguyện”.
Cụ nhận thấy những người cộng sản có “một nhiệt tâm ái quốc đáng kính bội”, và khẳng định trong cuộc mạn đàm tại tòa soạn Báo Tiếng Dân: “Nói về mặt quốc gia giải phóng thì độc lập ngày 2/9 rõ ràng là do toàn dân Việt Nam chúng ta tranh đấu mà được”.
Suốt bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, khi nước đã được độc lập, chế độ dân chủ đã được thực hiện, nước nhà cần có nhân tài để xây dựng chế độ xã hội mới thì dẫu lúc đầu còn có băn khoăn về tuổi già sức yếu, nhưng trước đại nghĩa của dân tộc, trước sự chân thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và với suy nghĩ: “Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng phải ra sức phụng sự Tổ quốc”, dù đã ở tuổi 70 cụ vẫn nhận lời tham gia Chính phủ.
Thật xúc động khi cụ nói với Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nếu cụ thấy ba chữ Huỳnh Thúc Kháng còn có chỗ dùng với Tổ quốc, đối với đồng bào, thôi thì xin hiến cho cụ dùng”.
Cụ Huỳnh đã có những đóng góp to lớn không chỉ ở cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong giải quyết những công việc nội chính của chính phủ, như xây dựng và kiện toàn tổ chức bộ máy của Bộ Nội vụ, xây dựng và củng cố hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền các cấp, nhất là tổ chức chính quyền trong thời kỳ đặc biệt khi cả nước bước vào cuộc kháng chiến; trong giữ gìn trật tự kỷ cương của xã hội mới, mà còn ở cương vị Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam đoàn kết tất cả đảng phái yêu nước và các giới đồng bào; ở cương vị quyền Chủ tịch Chính phủ trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm nước Pháp (31/5 - 20/10/1946) cụ đã thực hiện đúng phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” giải quyết kịp thời những vấn đề nội trị, ngoại giao hằng ngày của Chính phủ, đặc biệt là cụ đã xử lý kiên quyết đối với những hoạt động phản quốc của tổ chức Việt Nam Quốc dân Đảng.
Trên đường đi kinh lý các tỉnh miền Trung, đến đâu cụ Huỳnh cũng giải thích đường lối kháng chiến và kêu gọi toàn dân đoàn kết ủng hộ Chính phủ, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cụ Huỳnh tạ thế ngày 21/4/1947, nhưng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong thư gửi đồng bào 8 ngày sau đó: “Cụ Huỳnh tuy tạ thế nhưng cái chí vì nước, vì nòi của cụ vẫn luôn luôn sống mạnh mẽ trong lòng 20 triệu đồng bào chúng ta”.