Chuyện học, ngẫm từ “mẫu người mới” cụ Huỳnh
Đỗ đại khoa nhưng không lựa chọn con đường quan lộ, tự học nhưng không biến mình thành “mọt sách”... Nhân 150 năm Ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, thử ngẫm về “sinh lộ mới” trong lối học cũ, về đời sống thực hành và giáo dục ngày nay, về thông điệp đào tạo của thời trí tuệ nhân tạo (AI)...

Mê sách, nhưng không phải “mọt sách”
Cụ Huỳnh Thúc Kháng từng nhận mình mê sách. Tự thuật trên báo Tiếng Dân số ra ngày 10/3/1939, cụ viết: “Tôi, một anh học trò gốc sinh trưởng nhà nông nghèo trong thôn quê, đã là cái hoàn cảnh phác dã, thô vụng, khô khan, quê kệch, gia dĩ đặc tính trời phú ham mê về sự học, nửa đời người tôi ngoài văn thơ sách vở ra, gần như không có cái gì gọi là mỹ cảm”.
Cụ tự trào rằng mình bị anh em đồng thời (trong đó có cụ Phan Châu Trinh) gọi đùa là “lão phác” vì không biết 4 cái hứng thú mà làng văn thích thưởng ngoạn: uống rượu, chơi hoa, ngắm sắc, thưởng sơn thủy. Ông Vương Đình Quang, thư ký tòa soạn Báo Tiếng Dân, viết hồi ký về cụ Huỳnh cũng nhắc chuyện hễ cụ “đã cầm đến sách là cụ say mê vào đó, không còn biết trưa biết tối, nhiều bữa người nhà phải đến mời cụ về ăn cơm...”.
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Lê Minh Quốc nhận định cụ Huỳnh mê sách nhưng dứt khoát không phải “mọt sách”. “Với một tư tưởng khoáng đạt và cấp tiến, cụ Huỳnh vận dụng những điều đã học trong sách để áp dụng vào thực tiễn. Người Quảng vốn trọng những giá trị thực tiễn, chứ không chuộng cái hư danh vẽ vời, hào nhoáng bên ngoài”, Lê Minh Quốc viết trong cuốn Người Quảng Nam (NXB Trẻ - 2012, trang 273).
Nhận xét này sát hợp với hành trạng của cụ Huỳnh, người đỗ tiến sĩ năm 1904 nhưng không ra làm quan, chỉ ở nhà dạy học, đọc tân thư, ngao du với các nhà nho yêu nước trước khi bị thực dân Pháp bắt giam năm 1908 và lưu đày Côn Lôn (Côn Đảo).
Không phải ngẫu nhiên mà người đương thời xếp cụ Huỳnh vào nhóm những người hay chữ: “Tam hùng” (Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Phạm Liệu), “Ngũ hổ” (Huỳnh Thúc Kháng, Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Phạm Liệu, Nguyễn Đình Hiến).
Riêng nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân còn đề xuất danh xưng “Ngũ phụng bất tề phi”, gồm Hoàng giáp Phạm Như Xương, hai vị song nguyên Phạm Phú Thứ và Huỳnh Thúc Kháng, tiến sĩ Trần Quý Cáp, phó bảng Phan Châu Trinh.
Khác với 5 con chim phượng trong “Ngũ phụng tề phi” của khoa thi Mậu Tuất 1898 ở chi tiết “tề phi” (cùng bay một lần) và “bất tề phi” (không cùng bay một lần), nhưng theo ông Nguyễn Văn Xuân, “điều ấy không quan trọng gì đối với học vấn, giáo dục và tinh thần hy sinh để dựng nước, để giữ nước”, bởi họ là những nhân vật hiển hách mà khắp đất nước gần như không ai không biết tên tuổi.
Nhưng chính ông Nguyễn Văn Xuân cũng nhận thấy thứ tự của “Ngũ phụng bất tề phi” mà ông sắp xếp cũng chỉ căn cứ theo “giá trị bằng cấp để đáp ứng tính mê tín bằng cấp của những người bị bệnh thi cử từ chương ru ngủ” mà thôi.
Còn thực tế đã được kiểm nghiệm: người có bằng cấp thấp thì sự nghiệp lại lớn hơn nhiều so với những người có bằng cấp cao. Người nhắc sau cùng (cụ phó bảng Phan Châu Trinh) là con phượng dẫn đầu, danh lưu hậu thế, tên tuổi gắn liền với phong trào Duy tân và Dân quyền.
Một điểm tương đồng thú vị với cụ Huỳnh Thúc Kháng: cụ hoàng giáp Phạm Như Xương, người xếp đầu tiên trong “Ngũ phụng bất tề phi”, cũng dám vứt bỏ bằng cấp cao trọng và quan chức lớn để theo Nghĩa hội và sau đó làm chỗ dựa tinh thần cho phái Đông du.
“Những nhân vật như thế không phải là giống phượng làm đẹp trên mũ áo cho các bà hoàng hậu, phi tần mà là những con đại bàng gây bão táp trên chín tầng mây, gắn liền vận mạng giáo dục, đào tạo và vận mạng đổi mới đất nước. Đáng tôn quý biết bao!”, nhà văn Nguyễn Văn Xuân cảm thán.

“Sinh lộ” mới
Tinh thần hiếu học của cụ Huỳnh luôn có bóng dáng của 2 chữ “tự học”. Nhiều nhà nghiên cứu từng dẫn lại giai thoại do các bậc cao niên ở Quảng Nam kể, rằng thời gian ở tù ngoài Côn Lôn, cụ Huỳnh bắt đầu tự học tiếng Pháp. Nhờ người nhà gửi vào quyển từ điển Pháp - Việt của Cordier, đều đặn mỗi ngày cụ học từng chữ một. Ròng rã suốt 13 năm ngồi tù, cụ thuộc lòng cả quyển từ điển...
Khi bàn về vấn đề thực chất và hiệu quả của cái học thực nghiệp, trong cuốn Quảng Nam trong hành trình mở cõi (NXB Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh - 2005), nhà nghiên cứu Nguyễn Q.Thắng nhắc đến “sinh lộ” mới vào đầu thế kỷ 20 gắn liền với 3 cụ Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. “Sinh lộ” ấy là bỏ cái học khoa cử, chăm lo vào đường thực học, mới mong cứu vãn được cuộc sống của mình; nhất là cái học biết dung hòa Đông, Tây, xưa, nay, thì mới trở nên hữu ích với đời.
“Trong việc học, phong trào Duy tân có một quan niệm mới mẻ, táo bạo, thoát ly hẳn cái học cũ với thói quen “tử viết”, “thi vân”... Lối học này nhằm đào tạo một con người có sáng kiến, chuộng thực tế và biết nhắm đến một đối tượng rõ ràng. Cái học đó được người đương thời tán thưởng, khâm phục, được áp dụng tại các trường học dựng lên khắp tỉnh Quảng Nam, một số tỉnh miền Trung và Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội” (Nguyễn Q.Thắng viết, sách đã dẫn, trang 335).
Hiếu học ở xứ Quảng không tách rời thực học. Lịch sử thật hữu ý khi dành cho mảnh đất này một quãng thời gian đủ dài để dấy ngọn cờ “học để làm người” thông qua phong trào Duy tân, với chủ trương và phương pháp giảng dạy thật sự táo bạo.
Khi khảo cứu về khoa cử và giáo dục Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Q.Thắng ghi nhận các mục tiêu trong đường lối giáo dục mới mẻ cách đây hơn một thế kỷ: theo mới (vừa học văn hóa vừa học môn thực dụng, học bằng thực tế nhằm phục vụ nhân sinh), theo một lý tưởng, luyện tính khí, không màng công danh (vứt bỏ bằng cấp, chức tước...), phụng sự xã hội, luyện thân thể cường tráng, tin khoa học, cái học thực dụng, phụ nữ với xã hội (con gái vẫn theo học như con trai, nam nữ bình quyền).
Những câu trích trong bài “Khuyên con đi học” của cụ Huỳnh Thúc Kháng cổ vũ mạnh mẽ tinh thần thực dụng và có tính cách hướng nghiệp ấy: “...Học là học có nghề có nghiệp/ Trước giữ mình sau giúp người ta/ Trâu cày ruộng, chó giữ nhà/ Người không nghề nghiệp ắt là hư sanh!”.
.jpg)
Thông điệp thời AI
Cụ Huỳnh là khuôn mẫu của người luôn theo đuổi 2 chữ “hướng nghiệp”. Những ngày còn chịu tù đày ngoài Côn Lôn, cụ chịu khó tự học, học cả Pháp văn nhưng không chỉ dừng lại ở chuyện thuộc cả bộ tự điển Gazier. Nhà văn Nguyễn Văn Xuân từng viết rằng, cụ Huỳnh còn quyết tâm học nghề rồi thêm nào cày bừa, làm thuốc, làm nữ trang đồi mồi, lại rành công văn, thư trát văn phòng... nên về đất liền “ông đã chuẩn bị cho mình một hành trang khá tốt để tự lo liệu, khỏi phụ thuộc ai”.
Có một sợi dây liên kết giữa lối “học để làm người” hồi đầu thế kỷ 20 với những biến chuyển mới của thời đại khoa học phát triển vượt trội ngày nay, thời của AI. Nhiều chuyên gia vừa lên tiếng kêu gọi phải suy nghĩ về vai trò, ý nghĩa của các trường đại học trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng chú trọng năng lực ứng viên.
Tại hội thảo về yếu tố con người trong tầm nhìn của giáo dục bậc cao do Trường đại học RMIT Việt Nam vừa tổ chức cuối tháng 9/2026, có chuyên gia nêu quan điểm rằng giá trị của bằng đại học trong thời AI không còn chủ yếu nằm ở số năm theo học trên giảng đường, mà nằm ở chỗ: sau thời gian theo học, người đó thực sự biết làm gì, tư duy ra sao, có thể tiếp tục học nhanh tới mức nào khi thế giới liên tục đổi thay.
Thậm chí, phương thức đào tạo cũ (phù hợp với cuộc cách mạng công nghiệp) đã không còn hoàn toàn phù hợp với cuộc cách mạng AI.
Bàn về phong trào Duy tân, nhà nghiên cứu Nguyễn Q.Thắng nhận xét: Phong trào này đi vào lịch sử Việt Nam “không những tạo cho lịch sử nước nhà một gương mặt mới, một mẫu người mới... mà còn gây nên một tiếng vang lớn khiến toàn bộ chính sách thực dân phải lay động từ gốc rễ”. Cụ Huỳnh không chỉ góp sức vào phong trào ấy mà còn lấy chính cuộc đời mình để minh chứng cho “mẫu người mới”. Chuyện học của cụ, vì thế, vẫn luôn mang tính thời sự dù khoảng cách được đo đếm bằng thế kỷ.
THUẬN TRIỀU