baodanang.vn

Giáo dục - Việc làm

Kiến tạo hệ sinh thái

NHẬT HẠ

Những mô hình hợp tác riêng lẻ đang mở ra hướng kết nối trường đại học, doanh nghiệp và Nhà nước trong nghiên cứu, phát triển công nghệ. Tiếp tục đầu tư hạ tầng nghiên cứu và phát triển (R&D), nguồn nhân lực, cơ chế tài chính được đặt ra...

_mg_8610.jpg
Các trường đại học trên địa bàn thành phố thường xuyên tổ chức các cuộc thi khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, có nhiều hoạt động kết nối hỗ trợ sinh viên. Ảnh: NHẬT HẠ.

Nối dài dòng chảy nghiên cứu

Qua hơn 10 năm hợp tác trong nghiên cứu, chuyên gia của Trường Đại học Công nghệ Sydney (UTS) cho rằng, quan hệ giữa trường đại học và doanh nghiệp chỉ phát huy hiệu quả khi có sự tham gia của chính quyền với vai trò hỗ trợ chiến lược và kết nối các bên. Mô hình trung tâm nghiên cứu chung là một cách thúc đẩy mối quan hệ này.

Trong các lĩnh vực như chuyển đổi số, an ninh mạng, trí tuệ nhân tạo, hệ thống viễn thông, doanh nghiệp và nguồn vốn đầu tư có vai trò quan trọng trong việc rút ngắn quá trình đưa kết quả nghiên cứu thành giải pháp phục vụ thực tiễn.

Tại Việt Nam, trong 5 năm qua, UTS đã phối hợp với các đối tác triển khai hệ thống giám sát biển tại Quảng Bình; nghiên cứu ứng dụng thiết bị bay không người lái tích hợp trí tuệ nhân tạo với Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Những dự án này cho thấy chính sách và nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước có thể tạo động lực để doanh nghiệp đầu tư, đồng thời giúp trường đại học phát huy năng lực nghiên cứu.

TS. Phan Hoàng Long, Phó Trưởng ban Khoa học và Hợp tác quốc tế, Đại học Đà Nẵng đề xuất mô hình 3 trụ cột hợp tác. Trong đó, Đại học Đà Nẵng cung cấp tri thức, chuyên gia và nguồn nhân lực nghiên cứu; Khu Công nghệ cao và các khu công nghiệp Đà Nẵng - DSEZA kết nối doanh nghiệp, không gian công nghiệp và môi trường thử nghiệm; doanh nghiệp đưa ra bài toán thực tế, dữ liệu, kinh phí và thị trường.

Để biến ý tưởng thành hoạt động cụ thể, TS. Phan Hoàng Long đề xuất xây dựng trục hợp tác Đại học Đà Nẵng - DSEZA - doanh nghiệp. Doanh nghiệp định kỳ cung cấp những vấn đề đang cần giải quyết, tác động của vấn đề, các giải pháp đã thử và khả năng đóng góp nguồn lực. Đại học Đà Nẵng chuyển hóa những nhu cầu này thành các bài toán ngắn gọn để nhóm nghiên cứu đánh giá khả năng tham gia. Cùng với đó là hình thành các nhóm công tác chung.

Các chương trình hợp tác có thể ưu tiên những lĩnh vực Đà Nẵng đang có thế mạnh và nhu cầu phát triển như vi mạch bán dẫn, tự động hóa và robot, trí tuệ nhân tạo và thị giác máy tính...

Dòng chảy tri thức cũng cần được mở theo hai chiều; trong đó chương trình “Nhà khoa học đồng hành”: giảng viên, nghiên cứu sinh làm việc trực tiếp tại doanh nghiệp để nhận diện bài toán và đề xuất giải pháp tại chỗ; kỹ sư, chuyên gia tham gia hướng dẫn đồ án, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, giảng dạy chuyên đề thực tiễn.

26-9-cd-6.jpg
Việc hợp tác giữa các bên sẽ giúp những dự án mới có tiềm năng sẽ được ươm tạo một cách bài bản, có định hướng để đi ra thị trường. Ảnh: NHẬT HẠ.

Gỡ những “đứt gãy” trong chuỗi R&D

Theo ông Lý Đình Quân, Giám đốc Vườn ươm Sông Hàn, gần 12 năm ươm tạo dự án cho thấy hành trình đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại còn nhiều trở ngại, tập trung ở 3 khoảng đứt gãy.

Trước hết là khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường. Nhiều nhà khoa học hoàn thành tốt công trình nhưng khó tìm người sử dụng, khách hàng hoặc nguồn chi trả. Công nghệ thiếu môi trường thử nghiệm, chưa xác định rõ nhu cầu nên dừng trước ngưỡng thương mại hóa. Vì vậy, chuyên gia thị trường và thương mại cần tham gia sớm để định hướng sản phẩm sát nhu cầu thực tế.

Thứ hai là khoảng cách giữa công nghệ và thương mại. Công nghệ hoàn thiện về kỹ thuật chưa đồng nghĩa đã sẵn sàng ra thị trường. Cần sự tham gia của nhà khoa học, chuyên gia, doanh nghiệp và nhà đầu tư để đánh giá, sàng lọc những bài toán có khả năng triển khai, thương mại hóa.

Thứ ba là thiếu chủ thể đồng hành xuyên suốt. Một số công nghệ sau khi chuyển giao vẫn dừng ở việc “bán công nghệ”, chưa được tiếp tục phát triển thành sản phẩm hoặc doanh nghiệp.

Ông Quân đề xuất xây dựng “ngân hàng bài toán” từ nhu cầu của doanh nghiệp, Nhà nước và xã hội. Các vấn đề được xác định cụ thể, sau đó chuyên gia sàng lọc, lựa chọn bài toán có tiềm năng triển khai. Các tổ chức trung gian giữ vai trò kết nối, giúp nhà trường, Nhà nước và doanh nghiệp tìm được tiếng nói chung. Trong hệ sinh thái ấy, Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc tạo cơ chế và chất xúc tác.

Theo ông Võ Đức Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, trước hết cần hoàn thiện thể chế, chính sách và bố trí nguồn lực hỗ trợ để nhà trường, doanh nghiệp có điều kiện cùng triển khai các chương trình nghiên cứu, thử nghiệm. Thành phố cũng có thể huy động thêm nguồn lực xã hội hóa từ các đối tác.

Đặc biệt, Nhà nước có thể trở thành “khách hàng tiên phong” thông qua việc đặt hàng những bài toán phát sinh trong thực tế quản lý và đời sống.

Thời gian qua, Sở Khoa học và Công nghệ đã tham mưu thành phố đặt hàng các bài toán đổi mới sáng tạo xuất phát từ nhu cầu của sở, ngành, địa phương. Các bài toán được đưa ra để cộng đồng doanh nghiệp, trường đại học nghiên cứu, đăng ký và đề xuất giải pháp. Cách làm này mở thêm một hướng kết nối: thay vì chờ nghiên cứu hoàn thành rồi mới tìm đầu ra, nhu cầu thực tế được đưa vào ngay từ đầu để định hướng hoạt động R&D.

Để dòng chảy nghiên cứu vận hành bền vững, các trường đại học cũng cần chuẩn bị đồng bộ nguồn lực. Đó là đội ngũ giảng viên, nhà khoa học, kỹ sư, nghiên cứu sinh và sinh viên; hệ thống phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu; dữ liệu và hạ tầng số; cơ chế sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ; cùng mạng lưới doanh nghiệp và thị trường.

Theo PGS-TS. Đinh Gia Như, Phó Giám đốc Đại học Duy Tân, với những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu cũng trở thành một dạng hạ tầng nghiên cứu quan trọng. Khi được quản trị đúng quy định, bảo đảm an toàn, bảo mật và đạo đức dữ liệu, nguồn dữ liệu phục vụ đào tạo, nghiên cứu, quản trị có thể mở thêm dư địa cho các đề tài ứng dụng.

NHẬT HẠ