Non sông một mối chung nhau gánh
ĐNO - Sau Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Để vượt qua tình thế hiểm nghèo này, cần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi “chiêu hiền, đãi sĩ”; trong đó có cụ Huỳnh Thúc Kháng - “một người đạo đức danh vọng mà toàn quốc dân ai cũng biết”.
.jpg)
Sau thắng lợi của Tổng tuyển cử (6/1/1946), tình hình đất nước lâm vào khó khăn, phức tạp do Việt Quốc, Việt Cách gây ra nhằm phân chia các ghế trong Chính phủ. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng đến việc thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến nhằm tập hợp đoàn kết cả lực lượng đảng phái và không đảng phái, đặc biệt phải có được những vị không thuộc đảng phái nào nắm giữ Bộ Quốc phòng và Bộ Nội vụ.
Để đáp ứng yêu cầu trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh “nhận thấy cương vị Bộ trưởng Bộ Nội vụ không ai đủ tư cách hơn Huỳnh Thúc Kháng, nhà chí sĩ lão thành không đảng phái và có nhiều uy tín; không ai hiệu quả hơn cụ Huỳnh Thúc Kháng trong việc quy tụ, dẫn dắt sự “hợp dòng” của những người thuộc tầng lớp trên, vốn chịu ảnh hưởng tư tưởng dân chủ tư sản, lại chưa hiểu nhiều, thậm chí còn ác cảm về Đảng Cộng sản và con đường cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo”.
Với trường hợp Huỳnh Thúc Kháng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết và kiên trì thuyết phục. Người đã hai lần gửi điện mời cụ ra làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhưng cụ từ chối “không thể nhận chức Bộ trưởng, tôi chỉ muốn ra gặp cụ Hồ để bày tỏ một vài ý kiến, còn việc gì khác thì tôi không thể nhận”.
Nhưng ra Hà Nội, trước tấm thịnh tình, sự chân thành của Hồ Chủ tịch, đặc biệt là sự cảm phục tài năng, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Huỳnh trả lời: “Nếu cụ thấy ba chữ Huỳnh Thúc Kháng còn có chỗ dùng cho Tổ quốc, đối với quốc dân đồng bào, thôi thì xin hiến cho cụ dùng”.
Giữa thời khắc lịch sử của vận mệnh quốc gia, dù đã ở tuổi 70, và cũng lưu ý thêm rằng: “Huỳnh Thúc Kháng vốn đã từng không ưa những người cộng sản và phương pháp đấu tranh của những người cộng sản”, nhưng với tấm lòng vì dân, vì nước; vì sự kính nể và trước nhiệt tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Huỳnh Thúc Kháng đã thật sự hiến thân cho Chủ tịch Hồ Chí Minh để phục vụ Tổ quốc, phục vụ đồng bào.
Chân thành mời cụ Huỳnh và được cụ Huỳnh thuận tình ra cùng gánh vác việc nước, Hồ Chí Minh là người đủ tầm để giao trọng trách và đặt trọn niềm tin vào cụ Huỳnh.
Đáp lại sự kỳ vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời gian giữ Quyền Chủ tịch nước, nhớ lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong cụ “dĩ bất biến ứng vạn biến”, cụ Huỳnh đã có những xử lý đúng đắn, sáng suốt trong việc điều hành bộ máy Nhà nước, giải quyết được nhiều khó khăn trong các vấn đề nội trị và ngoại giao, giữ yên được thế phát triển của cách mạng trong lúc hiểm nghèo…
Và những nỗ lực của cụ Huỳnh đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi nhận: “Trong lúc tôi đi vắng, nhờ sự lãnh đạo sáng suốt của cụ Huỳnh Quyền Chủ tịch, sự săn sóc giúp đỡ của Quốc hội, sự ra sức gánh vác của Chính phủ, sự đồng tâm hợp lực của quốc dân, mà giải quyết được nhiều việc khó khăn, công việc kiến thiết cũng tiến bộ”.
Cuối năm 1946, mặc dù tuổi cao sức yếu nhưng cụ Huỳnh vẫn hăng hái đảm nhận nhiệm vụ thay mặt Chính phủ và Mặt trận Liên Việt đi kinh lý các tỉnh Trung Bộ để thăm hỏi đồng bào và giải thích rõ cho nhân dân về đường lối kháng chiến kiến quốc của Trung ương, đồng thời vận động nhân dân tích cực chuẩn bị cho công cuộc trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trên đường công tác, cụ Huỳnh lâm bệnh nặng. Biết mình khó qua khỏi, cụ đã gửi bức điện cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với lời vĩnh biệt “Chào vĩnh quyết”.
Cuộc đời và sự nghiệp của Huỳnh Thúc Kháng là tấm gương đạo đức “giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khổ không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan”, “không cầu danh vị, không cầu lợi lộc, không thèm làm giàu, không thèm làm quan”, “chỉ phấn đấu cho dân được tự do, nước được độc lập”.
Trân trọng người tài đức, dùng người tài đúng theo năng lực, phẩm cách của họ đồng thời cải biến con người để họ được phát huy cao nhất, đóng góp nhiều nhất; khi đã dùng người thì đặt trọn niềm tin vào họ với tấm lòng rộng mở, không định kiến, thiên kiến; xóa dần sự khác biệt, cách biệt để có sự thống nhất, hợp tác thực tâm và hiệu quả vì việc dân, việc nước… Đây là bài học vô cùng quý giá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho Đảng ta.
Từ bài học về việc trọng dụng người tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày đầu lập nước đến những chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài ngày nay là một hành trình kế thừa và phát triển nhất quán: lấy người tài làm nguồn lực cho quốc gia, lấy năng lực và sự cống hiến làm thước đo, lấy lợi ích của dân tộc làm điểm quy tụ. Bài học về “dụng nhân như dụng mộc” của Người vì thế không chỉ thuộc về lịch sử, mà vẫn đang được tiếp tục đặt ra trong từng quyết sách về con người và sự phát triển của đất nước hôm nay.
LÊ NĂNG ĐÔNG