Cần đầu tư cho “Ngân hàng IP (*)” văn hóa Chăm
ĐNCT - Đà Nẵng đang sở hữu một trong những bộ sưu tập điêu khắc Chăm quan trọng và có quy mô lớn nhất thế giới, nhưng những giá trị ấy chưa được chuyển hóa tương xứng thành nội dung, sản phẩm và trải nghiệm sáng tạo đương đại.

MỘT hạ tầng dữ liệu, quyền sử dụng và sáng tạo văn hóa có thể mở đường cho sách, phim, trò chơi, giáo dục và thiết kế, đồng thời bảo vệ lợi ích công và các giá trị văn hóa của cộng đồng Chăm.
Di sản Chăm bước vào nền kinh tế sáng tạo
Tòa nhà đầu tiên của Bảo tàng Điêu khắc Chăm ở Đà Nẵng được hoàn thành và đưa vào hoạt động năm 1919. Đây là một trong những bảo tàng có lịch sử lâu đời tại Việt Nam và đang lưu giữ một trong những bộ sưu tập điêu khắc Chăm quan trọng, có quy mô lớn nhất thế giới.
Tuy nhiên, nhiều phù điêu, tượng thần và hoa văn tinh xảo vẫn chủ yếu hiện diện trong không gian trưng bày và nghiên cứu chuyên ngành; rất ít được chuyển hóa thành sách tranh, phim hoạt hình, các sản phẩm thiết kế và giáo dục có chất lượng.
Trong những lần đến thăm bảo tàng này, ngắm các di vật vô giá nghìn xưa để lại, tôi vẫn luôn nghĩ, có cách nào để các hiện vật chuyển hóa được thành một “ngân hàng IP” văn hóa Chăm, để được tiếp cận, sử dụng và tiếp nối sáng tạo một cách có trách nhiệm, minh bạch, từ đó tạo nguồn tái đầu tư cho công cuộc bảo tồn.
Ý tưởng về “Ngân hàng IP văn hóa Chăm” không có nghĩa mọi yếu tố văn hóa Chăm đều trở thành tài sản sở hữu trí tuệ. Về chức năng, đây phải là một nền tảng quản trị dữ liệu, tình trạng pháp lý, quyền tiếp cận, điều kiện sử dụng và cơ chế chia sẻ lợi ích đối với tài sản văn hóa và các sản phẩm số liên quan.
Thiết chế này không tự xác lập những quyền mà pháp luật không bảo hộ; nó kiểm kê, xác định tình trạng quyền, phân loại mức độ nhạy cảm, quản lý quyền tiếp cận và tổ chức cấp phép đối với những tài sản mà chủ thể vận hành thực sự có quyền cấp phép.
Không gian mà đề xuất này nhắm tới gồm ba cụm di sản tiêu biểu của Quảng Nam cũ. Trà Kiệu thường được xác định là một trung tâm chính trị quan trọng, có khả năng gắn với thành Simhapura; Mỹ Sơn là trung tâm tôn giáo; Đồng Dương là trung tâm Phật giáo quan trọng dưới triều Indravarman II vào cuối thế kỷ IX.
Nhiều hiện vật tiêu biểu có nguồn gốc từ ba địa điểm này hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm, Bảo tàng Lịch sử quốc gia và các đơn vị bảo tàng, quản lý di tích khác. Sau sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025, ba địa điểm này cùng thuộc thành phố Đà Nẵng, tạo điều kiện thuận lợi để kết nối di sản, bảo tàng, đại học, doanh nghiệp sáng tạo và thị trường du lịch trong một chuỗi giá trị.
Cơ sở chính sách cho một nền tảng như vậy đang thuận lợi hơn trước. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025; Nghị định số 308/2025/NĐ-CP, ban hành ngày 28/11/2025 và có hiệu lực từ ngày 15/1/2026, quy định chi tiết một số nội dung thi hành. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 đặt mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030, đồng thời đề cập số hóa di sản, phát triển thị trường và hệ sinh thái sáng tạo.
Tuy vậy, các văn bản này không mặc nhiên trao cho một nền tảng quyền sở hữu hay quyền thu phí đối với mọi yếu tố văn hóa Chăm. Không gian chính sách phù hợp nằm ở việc kết hợp bảo tồn với dữ liệu, sáng tạo, giáo dục và phát triển thị trường trên cơ sở phân định rõ từng loại tài sản và từng căn cứ pháp lý.
Không chỉ là chuyện số hóa
Không đơn thuần chỉ là chụp ảnh, quét 3D rồi đưa lên trang web như là một kho dữ liệu. Một nền tảng quyền và dữ liệu đúng nghĩa phải làm được ít nhất 5 việc: nhận diện tài sản; xác minh nguồn gốc; xác định tình trạng pháp lý; quy định điều kiện tiếp cận, sử dụng; và tổ chức cấp phép hoặc cung cấp dịch vụ dữ liệu khi có căn cứ.
Mỗi tài sản cần có một “hồ sơ tài sản văn hóa và tình trạng quyền”, gồm tên gọi, niên đại, nơi phát hiện, mô tả khoa học, câu chuyện văn hóa, hình ảnh hoặc mô hình số, đơn vị lưu giữ, chủ thể quản lý hiện vật, chủ thể sở hữu file số, tình trạng quyền tác giả, yêu cầu ghi nguồn, yêu cầu tham vấn cộng đồng, mức độ nhạy cảm và căn cứ của việc thu phí, nếu có.
Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới sử dụng khái niệm “biểu đạt văn hóa truyền thống” đối với nhiều dạng họa tiết, âm nhạc, biểu tượng và truyện kể dân gian, đồng thời cảnh báo rằng số hóa có thể tạo thêm rủi ro nếu quyền, sự đồng thuận, quyền tiếp cận và cơ chế chia sẻ lợi ích không được xác định từ đầu. Vì vậy, nền tảng cần được thiết kế trước hết như một hạ tầng quản trị có trách nhiệm, không phải một công cụ gom dữ liệu để thương mại hóa đồng loạt.
Mô hình nên được tổ chức theo bốn tầng. Tầng thứ nhất là di sản và hiện vật gốc: di tích, hiện vật, bia ký, nghi lễ và tri thức truyền thống - tầng này không mặc nhiên là IP và không mặc nhiên có thể cấp phép thương mại. Tầng thứ hai là dữ liệu và quyền tiếp cận: ảnh, video, hồ sơ khoa học, bản vẽ, dữ liệu 3D và metadata - cần xác định ai tạo lập, ai quản lý, mức độ mở, điều kiện cung cấp và căn cứ thu phí.
Tầng thứ ba là tài sản sáng tạo mới: bộ họa tiết, phông chữ, minh họa, nhân vật, mô hình phục dựng, kịch bản và học liệu - đây là tầng có khả năng hình thành quyền sở hữu trí tuệ rõ hơn. Tầng thứ tư là thị trường và chia sẻ lợi ích trong xuất bản, phim, game, thiết kế, du lịch, giáo dục và quà tặng.
Nguyên tắc vận hành là mở theo mức độ rủi ro: tài sản mở chỉ cần ghi nguồn; khai thác thương mại thông thường áp dụng quy chuẩn hoặc hậu kiểm; nội dung thiêng, nghi lễ sống và yếu tố dễ xuyên tạc phải được tham vấn, thẩm định trước.
Bắt đầu từ những bước đi nhỏ
Không dễ để triển khai ngay ở quy mô lớn. Nên bắt đầu từ việc kiểm kê mẫu, rà soát pháp lý và phỏng vấn khoảng 30-50 doanh nghiệp sáng tạo như nhà xuất bản, studio phim, game, thiết kế, thời trang, du lịch và giáo dục. Cần xác định họ cần loại dữ liệu nào, rào cản lớn nhất có thực sự là bản quyền hay không, mức sẵn sàng trả phí và một số sản phẩm có người mua thực tế.
Chỉ sau giai đoạn khám phá thị trường mới nên quyết định thí điểm trong khoảng hai năm tại ba cụm Mỹ Sơn, Trà Kiệu và Đồng Dương với số lượng tài sản vừa đủ để kiểm nghiệm mô hình.
Việc đầu tiên là kiểm kê và xác minh nguồn gốc; nhằm trả lời các câu hỏi cơ bản: tài sản đang ở đâu; ai quản lý hiện vật; ai tạo và nắm quyền đối với ảnh, phim, hồ sơ khoa học hoặc dữ liệu số; dữ liệu nào được mở; dữ liệu nào cần hạn chế; căn cứ nào cho việc thu phí hoặc cấp phép.
Bước tiếp theo là phân loại pháp lý và thiết kế điều kiện sử dụng. Việc sử dụng thương mại có thể phải xin phép, ký hợp đồng hoặc trả phí dịch vụ tùy tình trạng pháp lý cụ thể.
Sau khi chứng minh nhu cầu và hoàn tất phân loại pháp lý, thành phố mới nên xây dựng cổng điện tử cho phép tìm kiếm theo địa điểm, niên đại, phong cách, mức độ nhạy cảm và tình trạng quyền. Doanh nghiệp có thể xem bản xem trước, đề nghị tiếp cận dữ liệu, ký hợp đồng hoặc xin cấp phép khi cần. Hệ thống phải lưu lịch sử cung cấp dữ liệu và cấp quyền minh bạch, nhưng không cần chạy theo công nghệ thời thượng nếu chưa chứng minh được giá trị sử dụng.
Một nền tảng quyền và dữ liệu không tự tạo ra thị trường; nó chỉ giải quyết một phần trở ngại như dữ liệu phân tán, nguồn gốc chưa rõ, chi phí tiếp cận cao và quy trình sử dụng thiếu minh bạch. Muốn hình thành thị trường còn cần vốn mồi, đặt hàng sáng tạo, đào tạo người làm sản phẩm, thử nghiệm và hệ thống phân phối.
Có thể chọn một số tài sản sáng tạo hạt giống như bộ họa tiết lấy cảm hứng từ Mỹ Sơn, mô hình kiến trúc 3D, sách tranh lịch sử, học liệu, quà tặng bảo tàng, phim hoạt hình ngắn hoặc trò chơi giáo dục. Không nên buộc mọi sản phẩm qua cùng một hội đồng: tài sản mở chỉ cần ghi nguồn; sản phẩm thương mại thông thường đăng ký hoặc hậu kiểm; chỉ nội dung thiêng, nghi lễ sống và nội dung có nguy cơ xuyên tạc mới cần tham vấn cộng đồng và thẩm định trước.
Nguồn thu phải được phân loại đúng bản chất: tiền bản quyền, phí dịch vụ dữ liệu, doanh thu bán sản phẩm, tài trợ hay nguồn đặt hàng công. Nguồn thu cần được hạch toán minh bạch và có cơ chế ưu tiên tái đầu tư cho bảo tồn, số hóa, phát triển sản phẩm, nghệ nhân và cộng đồng. Việc giữ lại, phân bổ hoặc lập quỹ riêng phải phù hợp pháp luật về ngân sách nhà nước, quản lý tài sản công và cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập.
Thước đo thành công cần cân bằng bốn nhóm: khả năng tiếp cận (số tài sản mở, lượt sử dụng trong giáo dục và nghiên cứu); độ chính xác (hồ sơ có nguồn gốc và tình trạng pháp lý rõ); năng lực sáng tạo (số sản phẩm hoàn thành, doanh nghiệp tham gia); và lợi ích công (nguồn lực cho bảo tồn, nghệ nhân và cộng đồng). Doanh thu bản quyền chỉ là một chỉ số, không phải mục tiêu trung tâm.
Nếu được nghiên cứu và xây dựng đúng đắn, một hạ tầng như vậy có thể giúp các giá trị văn hóa Chăm được hiểu đúng, bảo vệ đúng, tiếp cận thuận lợi và tiếp tục được sáng tạo một cách có trách nhiệm. Nếu được thiết kế nghiêm túc, “ngân hàng IP văn hóa Chăm” có thể là cầu nối giữa khảo cổ học và thiết kế, giữa bảo tàng và doanh nghiệp, giữa các hiện vật hữu hình và những sáng tạo vô hình...
Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng đã hơn một trăm năm đóng vai trò của mình trong việc lưu giữ các bảo vật quý giá; câu hỏi bây giờ là làm sao để các giá trị đó tiếp tục vượt khỏi những gian trưng bày, trở thành một phần của đời sống sáng tạo hôm nay.
-------------------
(*) IP (Intellectual Property) - những tài sản trí tuệ có khả năng được bảo hộ và tiếp tục phát triển lâu dài trên nhiều lĩnh vực như điện ảnh, xuất bản, trò chơi, thiết kế, giáo dục, du lịch hay các nền tảng số.
TRẦN HOÀI PHƯƠNG