Địa bạ soi hình cố quận
VHXQ - Địa bạ xứ quảng không chỉ là những trang sổ cũ ghi chép ruộng đất, dân đinh mà còn lưu giữ diện mạo kinh tế, văn hóa và hệ thống địa danh của một vùng đất qua nhiều thế kỷ. Nhưng trước tốc độ đô thị hóa và sự xuống cấp của tư liệu, những di sản ấy đang đứng trước nguy cơ thất truyền.

Phác thảo diện mạo một vùng đất
Hải Vân quan mở ra một vùng đất rộng lớn về phía nam, đồng bằng duyên hải xứ Quảng trù phú, tiếp nối về phía tây là vùng núi và trung du giàu có sản vật với các nguồn lớn như Lỗ Đông, Vu Gia, Thu Bồn. Nhìn về phía đông là Cù Lao Chàm thấp thoáng sau biển cả mênh mông. Vùng đất này không chỉ giàu có sản vật, giàu có về văn hóa của nhiều sắc dân mà còn có vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trên trục bắc nam và trục đông tây. Vì vậy trong lịch sử thế lực nào cũng muốn làm chủ vùng đất này.
Quản trị một vùng đất trước hết phải am hiểu phong thổ, dân đinh của vùng đất đó. Thời trung đại và cận đại ở Việt Nam khi một triều đại mới được thành lập việc thống kê, đo đạc đất đai, dân đinh thường là việc cấp bách hàng đầu. Quan lại địa phương chịu trách nhiệm thống kê dân đinh trong các địa phương đóng thành tập gọi là “đinh bạ/bộ”. Đo đạc, thống kê các loại đất đai đóng thành tập gọi là “địa bạ/bộ”.
Xứ Quảng từ khi thuộc về đất Đại Việt đã trải qua nhiều lần đo đạc, thống kê lập sổ bộ, tuy vậy trải qua bể dâu thời cuộc và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ngày nay chúng ta hầu như chỉ nhìn thấy những tập địa bạ vào thế kỷ 18 và 19. Trong đó bao gồm địa bạ thời chúa Nguyễn, địa bạ thời Tây Sơn và địa bạ thời Nguyễn.
Các bộ địa bạ của Quảng Nam trong lịch sử hiện được lưu trữ trong dân gian và tại các trung tâm lưu trữ quốc gia. Nội dung các bộ địa bạ thường nêu lên lý do lập địa bạ, thống kê diện tích, tứ cận các loại đất đai: đất công; đất tư; đất thần từ phật tự; ruộng công; ruộng tư, đất hoang hóa, đất cát, đất ngập nước… Cuối cùng là phần ký tên đóng dấu của các chức sắc phụ trách công việc đo đạc.
Như vậy, đây là loại hình tài liệu/sử liệu sơ cấp đáng tin cậy, qua đó giúp chúng ta có góc nhìn khác, thậm chí chi tiết hơn về diện mạo một vùng đất trong quá khứ. Thông qua việc dịch thuật, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, người đương đại sẽ hiểu hơn về đời sống kinh tế, văn hóa của các làng xã trong quá khứ. Các câu hỏi: một làng sở hữu bao nhiêu ruộng đất công tư, các loại ruộng đó tốt hay xấu, mỗi năm canh canh tác được bao nhiêu vụ, làng có bao nhiêu ruộng đất chùa chiền miếu mạo… đều có ghi chép chi tiết trong địa bạ.
Không chỉ vậy, những ghi chép về địa danh, tên những xứ đất, con hói, bãi bồi… cũng là một dữ liệu quan trọng để nghiên cứu và hiểu hơn về một vùng đất. Từ các địa danh ngoài hải đảo Cù Lao Chàm: “xứ Bãi Bắc”, “xứ Khe Chùa”, “xứ Bãi Ông”… vào các địa danh vùng ven biển Hội An, Duy Hải: “xứ Làng Bàng”, “xứ Hà Tôm”, “xứ Khe Thủy”… đến các xứ đất trung du miền núi Đại Lộc: “xứ Eo Gió”, “xứ Phù Sa”… không làng xã nào là không có các địa danh cổ xưa do tiền nhân chọn đặt.

Giữ tên đất giữa lòng đô thị hóa
Một điều lạ mà chúng tôi nhận thấy là địa danh các xứ đất tồn tại bền vững nhất so với địa danh các cấp lớn hơn như thôn, xã, huyện, thậm chí là tỉnh trước các cuộc cải cách hành chính. Có lẽ vì quá nhỏ, nhỏ đến mức ngoài người trong làng ra không có ai để ý đến, vậy nên tên các xứ đất vẫn sống bền bỉ như vậy suốt chiều dài lịch sử cho đến ngày nay.
Khi tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ và trở nên khốc liệt, nhiều xứ đất tự nhiên, đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng. Tên các xứ đất đã không còn đảm nhiệm vai trò là giao tiếp trong làng như ban đầu nữa, nơi đó đã thành phố phường, khu công nghiệp với những cái tên mới, thời thượng hơn, xứ đất dần mờ và lùi sâu về trong lịch sử, ở những trang địa bạ được viết trên giấy dó nhàu rách và bụi bặm.
Tài liệu địa bạ ở Quảng Nam từ lâu đã được các tổ chức, cá nhân quan tâm sưu tầm, nghiên cứu. Tuy nhiên, đây là một dung lượng tài liệu khổng lồ, trải qua nhiều triều đại, tính không toàn vẹn, không liên tục là điều dễ hiểu.
Bộ phận địa bạ được lưu trữ quản lý của triều đình nhà Nguyễn hiện nay lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia I, Hà Nội, dĩ nhiên đây không phải là bộ tài liệu địa bạ đầy đủ của tỉnh Quảng Nam. Bộ phận địa bạ lưu trữ tại địa phương và các chủ sở hữu đất đai hiện nay đứng trước tình trạng vô cùng nguy cấp. Chất liệu của địa bạ là mực tàu và ấn nê viết/đóng trên giấy dó, trải qua hàng trăm năm đã trở nên rệu rã và luôn đứng trước thách thức của thời tiết nóng ẩm thường xuyên có lũ lụt và côn trùng gặm nhấm.
Vấn đề đặt ra là cần có một cuộc sưu tầm, chỉnh lý để có được một bộ địa bạ xứ Quảng đầy đủ và liên tục nhất, sau đó là các vấn đề về bảo tồn và dịch thuật, nghiên cứu, trưng bày, triển lãm. Về việc ứng dụng dữ liệu ngôn ngữ, văn tự trong đời sống đương đại, chúng tôi cho rằng tên các xứ đất có thể nghiên cứu sử dụng để đặt tên cho các con đường, các công viên, các khu văn hóa… đã được một số địa phương làm thành công như Hội An với các tên đường lấy tên từ các xứ ruộng đất xưa như “Đường Trảng Kèo”, “Đường Bàu Ốc”…
Như vậy, người xứ Quảng hôm nay đã viết thêm một trang mới cho những địa danh bản xứ, để cái đẹp xưa cũ không nằm im lìm trong những trang địa bạ nhuốm màu thời gian, mà tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại. Để người con xa xứ một ngày trở về vẫn nhận ra, “À đây, cố quận”.
NGÔ TƯỜNG VÂN