Đạo lý trong câu đối xưa
VHXQ - Đi qua những di tích cổ kính ở xứ quảng, chúng ta dễ bắt gặp những đôi đối liễn trên cột, tường, dưới mái hiên. không chỉ làm đẹp kiến trúc, câu đối còn hàm chứa những quan niệm về đạo lý, tín ngưỡng, tình làng nghĩa xóm và quê hương. Qua những câu chữ hàm súc ấy, một nếp sống và thế giới tinh thần của người xưa được lưu giữ.

Từ chữ nghĩa đến đạo làm người
Một trong những nội dung nổi bật của câu đối là quan niệm về đạo hiếu. “Tứ thời xuân tại thủ/Bách hạnh hiếu vi tiên” (Bốn mùa, xuân đứng trước/Trăm nết, hiếu đầu tiên). Xuân là mùa khởi đầu, “hiếu” được đặt ở vị trí đầu tiên trong trăm nết tốt của con người.
Trong quan niệm đạo đức truyền thống, hiếu không chỉ là bổn phận của con cái mà còn là nền tảng của nhân cách. Đặt trong không gian gia đình, nhà thờ tộc, chữ “hiếu” trở thành lời nhắc nhở, một chuẩn mực ứng xử được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nếu đạo hiếu hướng con người về cha mẹ thì những câu đối nói về công đức tiền nhân lại mở rộng vòng tròn tri ân đến tổ tiên, người khai cơ lập nghiệp và những thế hệ đi trước. “Tiền công sáng nghiệp thiên thu tại/Hiền đức khai cơ vạn cổ lưu” (Tiền nhân sáng nghiệp, ngàn năm còn đó/Người hiền mở mang cơ nghiệp, muôn thuở lưu truyền).
“Thiên thu”, “vạn cổ” nhấn mạnh mong muốn lưu giữ công lao của những người đã gây dựng cơ nghiệp. Trong văn hóa làng xã và dòng họ ở xứ Quảng, nhà thờ tộc, từ đường, đình làng... không chỉ là công trình kiến trúc mà còn là nơi ký thác ký ức. Những câu đối đặt ở đó nhắc rằng hiện tại không thể tách rời những người đã đặt nền móng cho quá khứ. Từ “công đức tiền nhân”, câu đối góp phần hình thành nếp ứng xử biết ơn và nhớ nguồn.
Từ nếp nhà đến dòng tộc, cộng đồng
Ở xứ Quảng, nhiều đôi liễn đối còn góp phần định hình nếp nhà và thế thứ gia đình, dòng tộc. Mỗi chữ trong câu đối đôi khi được dùng làm chữ lót cho một đời, ghi dấu truyền thống và thứ bậc của từng thế hệ.
Câu đối của họ Diệp: “Thế ứng thiên nguyên hư thành quốc khí/Hiếu hữu truyền gia thi thư lễ nghĩa”, nhấn mạnh việc lấy hiếu nghĩa, học vấn và lễ nghĩa làm nền tảng truyền nối. Họ Thái gốc Phúc Kiến có câu: “Châu Lỗ tông bang bổ duy thực tế/Đôn nhĩ văn chiêu vinh hoa bách thế”, thể hiện khát vọng gìn giữ tông phong, vun bồi văn hiến. Hay câu “Phú quý toàn gia/Giai do tích đức” của họ Lưu cô đọng quan niệm: phú quý của gia đình phải bắt nguồn từ việc tích đức, hành thiện. Qua những câu đối ấy, gia phong được khắc ghi thành những chuẩn mực để con cháu soi vào và tiếp nối.
Câu đối “Viễn thủy nan cứu cận hỏa/Viễn thân bất như cận lân” (Nước ở xa không cứu được lửa gần, bà con xa không bằng hàng xóm láng giềng gần) đã khái quát một kinh nghiệm dân gian thành triết lý ứng xử truyền đời. Khi con người gặp hoạn nạn, người thân ở xa đôi khi không thể giúp đỡ kịp thời bằng người hàng xóm ngay bên cạnh. “Láng giềng” không chỉ là khoảng cách địa lý mà còn là sự sẻ chia, giúp đỡ và trách nhiệm. Đằng sau câu chữ là một xã hội coi trọng tình nghĩa, nơi con người nương tựa vào nhau.
Câu đối ở xứ Quảng còn mở ra thế giới của cảnh vật và tín ngưỡng. Bởi thiên nhiên thường gắn với ước vọng và niềm tin của con người, câu đối cũng sử dụng hình ảnh núi sông, cây cỏ, mây nước, cảnh sắc để làm nền cho những lời cầu chúc, ca ngợi. Ví dụ như “Tử lý phần hương y cựu nhi giang sơn tăng mỵ/Tùng song cúc kính quy lai chi cảnh sắc thiêm xuân” (Sông núi quê xưa thêm vẻ đẹp/ Cúc tùng cành mới đượm màu xuân). Hay là câu “Thần linh hiển hách dân an thái/Vô tai vô họa phước thường lai” (Thần linh hiển hách, dân được yên ổn/ Không tai không họa, phúc thường tìm đến). Những câu đối cho thấy quan niệm của người xưa về sự hài hòa giữa con người, thiên nhiên và thần linh: sống thuận hòa, giữ lòng tôn kính ước mong cuộc sống yên ổn, tránh tai ương, đón phúc lành.

Những “dòng chữ biết kể chuyện”
Một giá trị đặc biệt của câu đối, liễn đối nằm ở phần lạc khoản. Nếu nội dung giúp nhận diện tư tưởng, tình cảm và quan niệm ứng xử thì lạc khoản có thể cung cấp dữ liệu về người lập dựng, người phụng cúng, người đề tặng, thời điểm sáng tác và những sự kiện gắn với di tích. Bởi vậy, câu đối không chỉ là văn bản văn chương mà còn có thể là một dạng tư liệu lịch sử.
Một vài chữ ghi niên hiệu, tên người, tên dòng họ hoặc thời điểm xây dựng, sửa chữa đôi khi giúp xác định tuổi đời công trình, nhận diện những người từng góp công xây dựng di tích. Ở góc độ này, mỗi câu đối là một “dòng chữ biết kể chuyện”. Nó kể chuyện về người đã sống, đã dựng xây, đã gửi gắm niềm tin vào một không gian cụ thể. Qua thời gian, câu chuyện ấy được lưu giữ trên gỗ, đá, tường vôi, trở thành một phần ký ức vật chất của cộng đồng.
Những câu đối liễn ở xứ Quảng là những di sản văn hóa giúp hậu thế nhận diện một hệ giá trị từng được cộng đồng coi trọng: hiếu với cha mẹ, kính nhớ tiền nhân, trọng tình làng nghĩa xóm, hướng về quê hương, tôn kính thần linh và cầu mong cuộc sống bình an. Những câu như “Tứ thời xuân tại thủ/Bách hạnh hiếu vi tiên”, “Tiền công sáng nghiệp thiên thu tại/Hiền đức khai cơ vạn cổ lưu”, hay “Viễn thủy nan cứu cận hỏa/Viễn thân bất như cận lân” đều đưa con người trở về với gia đình, tổ tiên, cộng đồng và quê hương.
Đạo hiếu hôm nay có thể được biểu hiện bằng những cách khác, nhưng lòng biết ơn ông bà, cha mẹ vẫn còn nguyên giá trị. Nhớ công đức tiền nhân không chỉ là thờ phụng mà còn là biết gìn giữ di sản.
QUANG DIỆU