[eMagazine] - Dư địa mới cho tăng trưởng hai con số từ kinh tế vườn
ĐNO - Đà Nẵng hiện có hơn 150.000 vườn, trang trại, việc tổ chức sản xuất, nâng chất lượng, giảm chi phí và tăng giá trị trên mỗi diện tích tạo dư địa phát triển lớn. Khi nông sản được kết nối với chế biến, thương mại, du lịch, công nghệ, dữ liệu và chính sách, kinh tế vườn sẽ có thêm lực đẩy tăng trưởng mới.

Dư địa tăng trưởng của kinh tế vườn nằm ở cách bố trí cây trồng, nguồn nước, nhân công, dữ liệu và thị trường. Và đích cuối cùng là gia tăng giá trị trên mỗi đơn vị diện tích và hiệu quả đo đếm được qua từng mùa vụ.

Tính lại từng đầu vào
Khu vườn hơn 1ha của ông Thái Nguyên Khoa (thôn Hữu Lâm, xã Tiên Phước) nằm cạnh đập Hố Quờn. Trên khu đất được cải tạo, ông đưa nhiều loại cây ăn quả vào canh tác, trong đó măng cụt là cây chủ lực.
Hơn 100 cây măng cụt mang lại thu nhập cho ông Khoa trên 300 triệu đồng mỗi năm. Nhờ áp dụng kỹ thuật chăm sóc theo hướng an toàn, khu vườn còn có điều kiện đón khách tham quan, trải nghiệm, mở ra cơ hội tăng nguồn thu từ cảnh quan và mùa trái chín.
"Vườn của tôi mỗi năm thu hoạch gần 3 tấn măng cụt. Từ trước đến nay, tới mùa là thương lái đến tận vườn hái và mua nên giá thường không được cao. Tôi mong khi trái chín có thể đưa hình ảnh sản phẩm lên sàn thương mại điện tử để nhiều người biết đến, có thêm người mua và giá cả ổn định hơn", ông Khoa nói.

Trong khi đó, trên khu đất rộng khoảng 5ha ở thôn Định Tây (xã Tiên Phước), ông Dương Công Quyền trồng 500 cây măng cụt, 1.000 cây ca cao, kết hợp nuôi đàn dê 50 con và đào hồ chứa nước rộng khoảng 600m².
Ông Quyền lắp đặt hệ thống điện mặt trời để vận hành máy bơm, dẫn nước từ hồ qua bộ lọc, đường ống và van đến từng gốc cây. Nhờ vậy, ông giảm bớt việc kéo ống tưới thủ công trên diện tích lớn và chủ động hơn về thời gian cấp nước. Ông cũng ghi chép lượng phân bón, nước tưới, tình trạng sinh trưởng của từng khu vực để có dữ liệu so sánh qua các mùa vụ.
.png)
Dù những ghi chép ban đầu của ông Quyền chưa đủ dữ liệu để hình thành một quy trình tiết kiệm rõ nét, chúng đã giúp ông nắm rõ cách sử dụng các nguồn lực. Khi dữ liệu được tích lũy đều đặn, các quyết định về tưới tiêu, bón phân hay bố trí cây trồng sẽ có thêm cơ sở vững chắc.
[VIDEO] - Chia sẻ của các chủ vườn về thực trạng sản xuất và ứng dụng chuyển đổi số:
Hướng đến vùng sản xuất
Tiên Phước hiện có hơn 1.768ha kinh tế vườn với thu nhập bình quân khoảng 170 triệu đồng mỗi héc ta, đóng góp khoảng 42% giá trị sản xuất nông nghiệp của xã. Quy mô này là nền tảng để địa phương tiếp tục tính toán quy hoạch vùng nguyên liệu và liên kết thị trường.
Ông Nguyễn Hùng Anh, Chủ tịch UBND xã Tiên Phước cho biết địa phương đang vận động các hộ có vườn liền kề hình thành vùng sản xuất quy mô từ 5 - 10ha đối với măng cụt, hồ tiêu, sầu riêng, bưởi da xanh; đồng thời mở rộng cấp mã số vùng trồng, ghi nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc và thí điểm 2-3 mô hình vườn số.
.png)
"Tiên Phước xác định chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng, giá trị và liên kết, phát triển kinh tế vườn sinh thái, tuần hoàn, đa giá trị, sử dụng chuyển đổi số để kết nối sản xuất với thị trường", ông Anh cho biết.

Xã Sơn Cẩm Hà hiện có hơn 3.000ha kinh tế vườn. Theo ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã, diện mạo sản xuất đã hình thành khá rõ nhưng việc ứng dụng khoa học công nghệ và các giải pháp số vào canh tác vẫn còn hạn chế. Một phần diện tích có tiềm năng phát triển vườn, trang trại hiện vẫn trồng keo, trong khi nhiều loại cây đặc sản giá trị cao lại rất phù hợp với thổ nhưỡng địa phương.
Xã Sơn Cẩm Hà vì vậy nhận thấy dư địa lớn ở việc nâng cao giá trị những khu vườn hiện có và từng bước chuyển đổi diện tích phù hợp sang trồng cây đặc sản, cây ăn quả. Địa phương mong muốn được hỗ trợ các giải pháp từ tưới tiêu, quản lý thông tin sản xuất đến cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, quảng bá và tiêu thụ để người dân áp dụng trực tiếp vào khu vườn qua từng mùa vụ.

"Vùng Tiên Phước trước đây còn nhiều diện tích người dân đang trồng keo nhưng có điều kiện để phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Trong khi đó, nhiều loại cây đặc sản có giá trị kinh tế cao lại phù hợp với thổ nhưỡng của vùng này. Đây là lợi thế để các địa phương tiếp tục xác định những cây chủ lực, tổ chức lại sản xuất và tạo thêm giá trị trong thời gian tới", ông Tuấn chia sẻ.
[VIDEO] - Chia sẻ của các lãnh đạo địa phương về thực trạng và định hướng phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại ứng dụng số:

Đà Nẵng có nhiều hợp tác xã, sản phẩm OCOP và vùng cây đặc sản, nhưng đầu ra vẫn phụ thuộc nhiều vào việc bán trái tươi, thương lái và các kênh tiêu thụ truyền thống. Dư địa tăng trưởng vì vậy nằm ở khâu chế biến, truy xuất nguồn gốc, thương mại điện tử, kết nối khách hàng và khai thác trải nghiệm từ chính không gian nhà vườn.

Rút ngắn đường ra thị trường
Ở thôn Tiên Châu (xã Sơn Cẩm Hà), ông Hoàng Bảo Thạch trồng cam, măng cụt, sầu riêng và nuôi thêm đàn heo nhỏ. Sản phẩm nhiều năm qua chủ yếu tiêu thụ tại địa phương, thông qua người quen hoặc khách đã biết tới nhà vườn. Khi diện tích cây ăn quả tiếp tục mở rộng, ông bắt đầu thấy rõ giới hạn của phương thức bán hàng phụ thuộc vào mùa vụ, nhất là với trái cây tươi có thời gian bảo quản ngắn.

"Hiện sản phẩm của nhà vườn phần lớn vẫn bán trong địa phương, chủ yếu là sản phẩm thô, hái về rồi bán. Tôi mong khi sản lượng măng cụt nhiều hơn thì có thể tiếp cận công nghệ chế biến sâu để sản phẩm đi xa hơn. Trái cây tươi chỉ bảo quản được vài ngày nên đầu ra phải được tính sớm", ông Thạch chia sẻ.

Với ông Thạch, thương mại điện tử mở thêm cơ hội để sản phẩm tiếp cận nhóm khách hàng ngoài địa phương. Ông cũng đặc biệt quan tâm đến mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc, bởi dù trái cây Tiên Phước đã có tiếng tăm, người mua ở xa vẫn khó xác thực nguồn gốc cụ thể của sản phẩm. Khi thông tin vùng trồng, chủ thể và quy trình được minh bạch, nhà vườn mới có thêm cơ sở xây dựng niềm tin nơi khách hàng.
Hợp tác xã Sản xuất Thương mại dịch vụ QNa Farm (xã Lãnh Ngọc) đã chủ động đi trước một bước. Bà Phạm Thị Mỵ Nương, Giám đốc Hợp tác xã cho biết, đơn vị thu mua nguyên liệu của nông dân, sơ chế, chế biến tại chỗ rồi bán qua Zalo, Facebook, website và các sàn thương mại điện tử. Khó khăn hiện nay là công tác truyền thông còn hạn chế, trong khi phí sàn và chi phí quảng cáo tăng cao khiến lợi nhuận của các sản phẩm có giá trị thấp bị thu hẹp.

"Phí sàn cao, cộng thêm phí quảng cáo thì nhiều sản phẩm gần như không còn lợi nhuận để tiếp tục đẩy mạnh. Hợp tác xã đang tìm cách bán trực tiếp nhiều hơn, hoặc kết nối với đơn vị có nhu cầu mua nguyên liệu để giảm chi phí trung gian. Nếu có nền tảng hỗ trợ nhà sản xuất tiếp cận khách hàng với chi phí phù hợp thì đó là điều chúng tôi rất cần", bà Nương nói.
Bán thêm trải nghiệm
Bài toán của những cơ sở như QNa Farm cho thấy đưa sản phẩm lên không gian mạng mới chỉ là khởi đầu. Ông Kiều Tiến Anh, Giám đốc vận hành Sàn thương mại điện tử Hi One cho rằng nhiều hợp tác xã, cơ sở nông nghiệp còn thiếu nhân lực làm hình ảnh, marketing, xử lý đơn và chăm sóc khách hàng do nguồn lực chủ yếu tập trung cho khâu sản xuất. Nền tảng phù hợp cần gánh vác bớt các phần việc này để chủ thể quy mô nhỏ không phải tự xây dựng toàn bộ bộ máy bán hàng số.

"Nhà sản xuất có thế mạnh ở việc làm ra sản phẩm. Khi nền tảng hỗ trợ được công nghệ, vận hành, đưa hàng lên sàn và tiếp cận khách hàng thì họ có thể tập trung hơn cho chất lượng. Chi phí trung gian cũng phải ở mức hợp lý để bán hàng trực tuyến trở thành một kênh có thể duy trì lâu dài", ông Anh nói.

Ngoài ra, chuỗi giá trị của kinh tế vườn còn có thể mở rộng thông qua phát triển du lịch. Ông Trần Quý Tấn, Trưởng phòng Quản lý Lữ hành, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng cho rằng, khu vườn hoàn toàn có thể tạo doanh thu từ cảnh quan, mùa trái chín, ẩm thực bản địa, nghề truyền thống và câu chuyện sản xuất khi được tổ chức thành các trải nghiệm bài bản. Một hộ có thể mạnh về thu hái, hộ khác phụ trách ẩm thực, hợp tác xã điều phối và doanh nghiệp lữ hành liên kết các mắt xích thành chương trình tour hoàn chỉnh.

Theo ông Tấn, hồ sơ số của điểm vườn cần thể hiện rõ vị trí, hình ảnh, mùa vụ, sức chứa, khung giờ đón khách, giá dịch vụ và thông tin liên hệ. Khi dữ liệu minh bạch, doanh nghiệp lữ hành sẽ thuận lợi hơn trong khâu khảo sát, lên lịch trình và đặt dịch vụ. Phản hồi sau mỗi chuyến đi cũng giúp nhà vườn điều chỉnh cách phục vụ, đa dạng hóa sản phẩm bán kèm và chọn thời điểm tổ chức phù hợp, qua đó gia tăng nguồn thu ngoài nông sản.
"Mỗi nhà vườn nên chọn trải nghiệm mình làm tốt nhất, còn hợp tác xã và doanh nghiệp lữ hành sẽ giúp kết nối thành sản phẩm. Khi khách đến vườn, họ có thể mua trái cây, dùng bữa, trải nghiệm thu hái và mang sản phẩm chế biến về. Nếu các khâu được tổ chức tốt, giá trị của khu vườn sẽ được giữ lại nhiều hơn cho cộng đồng", ông Tấn chia sẻ.
[VIDEO] - Các chuyên gia về công nghệ số chia sẻ về dư địa phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại:

Để vươn xa, những khu vườn cần các nguồn lực vượt quá khả năng tự lực của từng hộ kinh doanh hay hợp tác xã. Các cơ chế hỗ trợ khi đó sẽ đóng vai trò như nguồn "vốn mồi" để đánh thức dư địa tăng trưởng mới cho kinh tế vườn.

Vốn và công nghệ phải vừa sức
Sau 6 năm đầu tư trang trại quy mô khoảng 6ha tại Tiên Phước, ông Dương Thái Xuân Tuấn, Giám đốc HTX Nông nghiệp Kinh doanh Dịch vụ Tiền Phong cho rằng, mô hình vẫn đang gặp phải các nút thắt lớn về nước tưới, thị trường và vốn.
Vùng trung du thường có những đợt khô hạn kéo dài trong khi cây lâu năm lại cần nguồn nước ổn định, việc đầu tư hệ thống tưới và hạ tầng trên diện tích vài héc ta đòi hỏi nguồn vốn rất lớn. Càng mở rộng quy mô, hợp tác xã càng khó duy trì cách làm thủ công cũng như dựa vào nguồn vốn ngắn hạn.

Ông Tuấn cho biết, mức vay 500 - 700 triệu đồng có thể là lớn với một hộ gia đình, nhưng chưa đủ đáp ứng kế hoạch đầu tư cho 6ha. Khoản vay 1-2 tỷ đồng cũng khó đầu tư các hạng mục dài hơi, trong khi tài sản thế chấp của hợp tác xã còn hạn chế. Với cây lâu năm, khoảng thời gian từ lúc kiến thiết đến khi cho thu hoạch ổn định có thể kéo dài 5 - 10 năm, do đó dòng vốn tín dụng cần được thiết kế tương thích với chu kỳ sản xuất.
"Đầu tư kinh tế vườn có những loại cây phải mất 5 - 10 năm mới cho sản phẩm ổn định. Nguồn vốn cần đủ lớn, thời hạn phù hợp với chu kỳ cây trồng. Hợp tác xã chấp nhận vay và trả lãi, điều chúng tôi cần là nguồn tín dụng phù hợp để đầu tư dài hạn", ông Tuấn nói.

GS.TSKH Lê Thành Nhân, Viện trưởng Viện Công nghệ quốc tế, Đại học Đà Nẵng nhận định, công nghệ chỉ thực sự hữu ích khi gắn liền với các nghiên cứu về thổ nhưỡng, giống cây và mục tiêu canh tác. Thiết bị cảm biến đứng riêng lẻ sẽ tạo ra rất ít giá trị; điều cốt lõi là dữ liệu phải được thu thập chính xác, liên tục rồi đưa vào hệ thống phân tích để hỗ trợ việc ra quyết định tưới tiêu, chăm sóc và quản trị khu vườn.

Ông Nhân lưu ý chi phí thiết bị có thể vượt quá năng lực tài chính của nhiều nhà vườn, việc vận hành và bảo trì cũng không dễ dàng. Do đó, mô hình cung cấp dịch vụ theo hình thức thuê bao là một hướng đi đáng nghiên cứu, vừa giúp người dân giảm áp lực chi phí đầu tư ban đầu, vừa buộc đơn vị cung cấp phải đồng hành, theo sát hệ thống.
"Công nghệ muốn xuống được khu vườn thì mô hình sử dụng phải phù hợp với khả năng của người làm vườn. Nhà khoa học phải đi cùng thực tế để giải pháp dùng được và duy trì được", ông Nhân chia sẻ.
Đo hiệu quả và nhân rộng
Giai đoạn 2021 - 2025, hơn 175,6 tỷ đồng được bố trí cho chính sách phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại tại thành phố Đà Nẵng. Trong đó hơn 123,4 tỷ đồng đã giải ngân, hỗ trợ 1.847 vườn và 20 trang trại.
Sau khi sắp xếp chính quyền địa phương hai cấp, gần 13,9 tỷ đồng tiếp tục được bố trí để hỗ trợ thêm 153 vườn và một trang trại. Giai đoạn mới đặt trọng tâm vào hiệu quả đầu tư thực chất và năng lực kết nối công nghệ với thị trường.

Ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng cho rằng, doanh nghiệp số có thị trường, nhưng cách tiếp cận phải dựa trên lợi ích của người sử dụng.
Thành phố yêu cầu ngành khoa học và công nghệ tiếp thu các đề xuất, khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu, đồng thời nghiên cứu cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp giải pháp, nhà vườn, trang trại, hộ kinh doanh và các mô hình du lịch cộng đồng.

"Chủ trang trại khi ứng dụng thì phải ra được hiệu quả. Cần biết chi phí thay đổi thế nào, sản xuất thuận lợi hơn ở đâu, kết quả mang lại ra sao. Doanh nghiệp đồng hành cũng phải làm ra sản phẩm, ra kết quả để người dân nhìn thấy lợi ích", ông Bửu nói.

Ông Đào Ngọc Đạt, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế và Xã hội số, Bộ Khoa học và Công nghệ cho rằng, chuyển đổi số cần được triển khai xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị. Từ khâu đầu vào, sản xuất, chế biến đến phân phối và tiêu dùng, dữ liệu phải kết nối liền mạch các thông tin về giống, vật tư, thời tiết, sinh trưởng cây trồng, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và thị trường.
Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2030 đặt mục tiêu 70% số xã có hợp tác xã ứng dụng giải pháp công nghệ số, nền tảng số phục vụ quản trị, vận hành.

Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng Hệ thống đánh giá và hỗ trợ chuyển đổi số doanh nghiệp, dự kiến triển khai trong quý IV/2026, nhằm giúp doanh nghiệp đánh giá đúng thực trạng, tiếp cận giải pháp, dịch vụ tư vấn và các nguồn lực hỗ trợ.
"Điều quan trọng là đánh giá đúng mức độ chuyển đổi số rồi lựa chọn đúng giải pháp. Khi xác định được mình thiếu ở đâu, việc kết nối với công nghệ và nguồn lực mới đi đúng vào vấn đề cần giải quyết", ông Đạt nói.
[VIDEO] - Phó Chủ tịch UBND thành phố Hồ Quang Bửu đề xuất một số phương án cho các sở, ngành, địa phương và doanh nghiệp thúc đẩy ứng dụng chuyển đổi số vào phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại:
Nội dung: PHAN VINH - Đồ họa: TUYẾT TRINH
PHAN VINH - TUYẾT TRINH