Cỏ cây trong đời sống văn hóa Cơ Tu
Sinh sống dưới chân núi Trường Sơn, thiên nhiên ban tặng cho đồng bào Cơ Tu nhiều loài cây phong phú. Từ nguồn tài nguyên ấy, người Cơ Tu vận dụng tri thức bản địa để làm ra các bài thuốc dân gian, sáng tạo nên những món ẩm thực truyền thống, sản phẩm may mặc, dựng nhà cửa, đan lát… phục vụ đời sống, sinh hoạt cộng đồng.
.jpg)
Đây là những ghi nhận tại triển lãm và tọa đàm chuyên đề “Thực vật trong đời sống văn hóa Cơ Tu”, vừa được Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam phối hợp với Bảo tàng Đà Nẵng tổ chức.
Dấu ấn bản địa
Với người Cơ Tu, cây rừng hiện diện ở nhiều mặt của đời sống. Từ những thân gỗ dựng nhà, dựng gươl, làm cột tế, vách thưng đến tre, mây dùng trong đan lát, mỗi loại cây đều gắn với kinh nghiệm sử dụng được tích lũy trong cộng đồng.
Đặc biệt, nghệ thuật điêu khắc gỗ cho thấy sự am hiểu của người Cơ Tu về thế giới thực vật. Tùy vị trí và mục đích sử dụng, nghệ nhân lựa chọn những loại gỗ khác nhau. Gỗ dổi, gỗ thọ được dùng ở những cấu kiện đòi hỏi độ bền; gỗ chò, gỗ dổi được sử dụng làm những tấm ván thưng lớn để chạm khắc. Trong khi đó, những loại gỗ mềm như trám trắng, cây gạo phù hợp với việc tạo hình cột tế lễ (x’nur).
Qua thời gian điền dã, nhóm nghiên cứu Bảo tàng Đà Nẵng cho rằng, cây rừng còn tham gia vào chính quá trình tạo nên những tác phẩm điêu khắc của người Cơ Tu. Điển hình như lá chặc chìu được sử dụng để làm nhẵn bề mặt gỗ; một số loại cây, củ, vỏ cây được dùng tạo màu... Từ nguyên liệu của núi rừng, nghệ nhân tạo nên những mảng màu, đường nét và hoa văn trên gươl, cột tế, vật dụng và các sản phẩm văn hóa.
Ngoài ra, với hệ thống hoa văn, hình ảnh thực vật cũng được cách điệu thành những biểu tượng. Rau dớn, hoa rừng, cây lúa rẫy hay những loài cây gắn với sinh kế xuất hiện trong các mô-típ trang trí, phản ánh sự cảm nhận của con người về môi trường sống.
Theo nghiên cứu của TS. Hà Thị Sương (công tác tại Bảo tàng Đà Nẵng) về tri thức dân gian trong nghề làm gốm của đồng bào Cơ Tu tại thôn Ki’nonh (xã Hùng Sơn), nhiều loại thực vật bản địa được sử dụng trong các công đoạn chế tác. Cụ thể, gỗ Apang, Kren, R’ling được dùng làm chày đập đất; vỏ hoặc thân cây mía được làm thanh miết; cánh hoa chuối rừng được sử dụng để tạo vành miệng; lá chuối, lá mướp dùng làm vật kê; cật tre được chế tác thành công cụ cạo, gọt phôi gốm. Bên cạnh đó, các loại gỗ rừng và củi được sử dụng làm nhiên liệu trong quá trình nung lộ thiên.
Có nhiều năm nghiên cứu văn hóa miền núi xứ Quảng, ThS. Phan Duy Hiển cho biết, kỹ thuật nhuộm sợi truyền thống của người Cơ Tu là một biểu hiện sinh động của tri thức bản địa, được hình thành qua quá trình quan sát, thực hành và tích lũy kinh nghiệm lâu dài. Từ cây tà râm, củ nâu, rễ cây ma rớt đến vôi chế biến từ vỏ ốc đá, người Cơ Tu lựa chọn và kết hợp nguyên liệu phù hợp với từng yêu cầu tạo màu, xử lý và làm bền màu.
Theo ThS. Phan Duy Hiển, chính sự tích lũy kinh nghiệm qua thực hành đã biến những nguồn nguyên liệu tự nhiên thành vật liệu tạo màu có giá trị.
Đáng chú ý, kỹ thuật nhuộm còn gắn với kỹ thuật tạo hoa văn: người phụ nữ Cơ Tu bó, buộc từng lọn sợi trước khi nhuộm, tạo nên những đoạn màu đậm - nhạt; khi đưa vào dệt theo trật tự nhất định, các đoạn màu cách quãng hình thành hoa văn dợn sóng trên mặt vải. Đây là sự kết hợp giữa tri thức về nguyên liệu, kỹ thuật nhuộm và nghệ thuật dệt, góp phần tạo nên giá trị đặc sắc của thổ cẩm Cơ Tu.

Bài học ứng xử với rừng
Trải qua hàng nghìn năm thích ứng sinh tồn, phương thức mưu sinh dựa vào nương rẫy, săn bắt và hái lượm đã hình thành nên mối quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết giữa con người và thế giới tự nhiên. Trong nhãn quan tộc người, rừng không đơn thuần là môi trường cư trú mà còn cung cấp nguồn sống và lưu giữ nhiều tri thức được cộng đồng tích lũy qua các thế hệ.
Người Cơ Tu biết cây nào dùng dựng nhà, loại gỗ nào phù hợp để tạo tác, cây nào làm thuốc, thực phẩm, màu nhuộm hay phục vụ những công việc khác trong đời sống. Những tri thức này được truyền lại chủ yếu qua thực tiễn, quan sát, hướng dẫn và thực hành.
Theo các nhà nghiên cứu, mối quan hệ với tự nhiên còn thể hiện ở cách cộng đồng Cơ Tu khai thác và sử dụng tài nguyên rừng. Rừng thiêng, rừng đầu nguồn được coi trọng; việc khai thác phục vụ cộng đồng gắn với những quy định, tập quán và nghi thức nhất định. Cây rừng vừa là nguồn nguyên liệu, vừa góp phần hình thành kỹ năng, kinh nghiệm và những biểu tượng được lưu giữ trong đời sống Cơ Tu suốt hàng nghìn năm sinh tồn.
Là thế hệ trẻ Cơ Tu, Cơlâu Vĩnh Kiệt (sinh viên Khoa Kinh tế - Du lịch, Trường Đại học Quảng Nam) cho biết, thực vật gắn bó mật thiết với đời sống người Cơ Tu, từ thức ăn, dược liệu, vật liệu đến văn hóa, phong tục, tín ngưỡng. Những kinh nghiệm khai thác hợp lý, giữ rừng và bảo vệ các loài cây quý có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ môi trường sống.
“Việc tìm hiểu và bảo tồn những tri thức truyền thống này có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là cách góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa Cơ Tu, đồng thời giúp thế hệ trẻ nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ hệ sinh thái và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên”, Cơlâu Vĩnh Kiệt chia sẻ.

PGS-TS. Nguyễn Minh Trung, Tổng Giám đốc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam nhìn nhận, hoạt động triển lãm và tọa đàm chuyên đề lần này giúp giới thiệu những kết quả nghiên cứu khoa học về thực vật và tri thức sử dụng thực vật của người Cơ Tu sinh sống ở khu vực Đà Nẵng và miền Trung. Qua đó, góp phần phát huy các giá trị di sản thiên nhiên gắn với đời sống văn hóa của các dân tộc Việt Nam, trong đó có cộng đồng Cơ Tu.
Theo PGS-TS. Nguyễn Minh Trung, việc nghiên cứu không dừng ở nhận diện các loài cây mà còn mở ra hệ thống tri thức về cách con người nhận biết, sử dụng và ứng xử với môi trường tự nhiên; đặc biệt, với những tri thức có nguy cơ mai một, kỹ thuật truyền thống, mối quan hệ giữa đa dạng sinh học và tri thức bản địa là những nội dung cần tiếp tục được quan tâm.
“Những kết quả từ hoạt động nghiên cứu, triển lãm và tọa đàm là cơ sở để Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam tiếp tục hoàn thiện tư liệu về thực vật và tri thức sử dụng thực vật của người Cơ Tu; đồng thời mở rộng phối hợp với các cơ quan, nhà nghiên cứu, nghệ nhân và cộng đồng”, PGS-TS. Nguyễn Minh Trung nói.
ALĂNG NGƯỚC