baodanang.vn

Văn hóa - Văn nghệ

Sức sống bài dân ca Đập Vĩnh Trinh

THÁI MỸ

ĐNCT - Chuyện thảm sát tàn bạo tại đập Vĩnh Trinh vào những ngày giáp Tết Ất Mùi năm 1955 là cớ sự để bài dân ca Đập Vĩnh Trinh ra đời thấm đẫm nước mắt đau thương và ngợi ca những linh hồn kiên trung bất khuất, xả thân vì Tổ quốc.

1(4).jpg
Đài tưởng niệm vụ thảm sát trên đồi thông cận kề đập Vĩnh Trinh, nơi đây được xếp hạng di tích cấp quốc gia. Ảnh: THÁI MỸ

Bài dân ca luôn đồng hành với người dân xứ Quảng qua các thời kỳ lịch sử, song ít người biết tường tận từ thai nghén đến sự hình thành tác phẩm nổi tiếng này.

Ký ức đau thương

Cứ mỗi lần nghe NSƯT Thanh Châu hát bài dân ca Đập Vĩnh Trinh là tôi muốn đặt mình rơi hoàn toàn vào khoảng lặng để được thưởng thức trọn vẹn cho đến cuối bài. Sự cuốn hút không chỉ chất giọng trời phú cho thể loại dân ca bài chòi của Thanh Châu, mang đặc sắc xứ Quảng mà ẩn chứa trong những lời ca, tiếng hát ấy được cất lên từ lời khóc than, ai oán, căm uất về sự kiện đẫm máu đã diễn ra ngay dưới chân đập Vĩnh Trinh vào đầu năm 1955.

Hồi ấy, vĩ tuyến 17 được chia đôi tạm thời từ dòng Bến Hải, tỉnh Quảng Trị theo Hiệp định Genève để tiến tới tổng tuyển cử thống nhất đất nước vào năm 1956, song chính quyền Ngô Đình Diệm lại tiến hành xây dựng bộ máy tay sai đàn áp từ chóp bu tới xã, ấp để chống phá cách mạng. Chúng đưa ra khẩu hiệu “thà giết nhầm hơn bỏ sót” nên hàng loạt vụ thảm sát tàn độc diễn ra khắp các địa phương với hành động cực kỳ man rợ, trong đó phải kể đến vụ thủ tiêu 37 cán bộ, chiến sĩ, cơ sở cách mạng tại đập Vĩnh Trinh, xã Thu Bồn, thành phố Đà Nẵng.

Đây là những người yêu nước được chúng truy lùng, bắt giam, tra tấn mọi hình thức, song không thể khai thác được gì. Bọn chúng tìm cách thủ tiêu những người bị bắt với mưu mô đầy gian trá, xảo quyệt bằng cách đưa tất cả người bị bắt về nhà giam chùa Bà Giám, xã Duy Châu, huyện Duy Xuyên (cũ).

Để che mắt thiên hạ, chúng thông báo công khai những người bị bắt sẽ được thả về vui xuân với gia đình khi Tết Ất Mùi đang cận kề. Khoảng 20 giờ tối 28 tháng Chạp, tức ngày 21/1/1955, cánh cửa nhà giam chùa Bà Giám mở toang, chúng đọc tên từng người, cho ký vào biên bản đã lập sẵn với lý do được về ăn Tết với gia đình. Lần lượt từng người chậm chạp bước ra khỏi cánh cổng nhà giam thì ngay lập tức bị chúng phục bắt giữ trở lại, nhét giẻ vào miệng, trói hai tay sau lưng.

Chúng buộc từng tốp từ 5 đến 10 người thành một xâu rồi dẫn giải về phía đập Vĩnh Trinh cách đó chừng 5km. Đây là hồ nước nhân tạo từ thời phong kiến do dựa vào thế núi khá lớn, bao bọc tới 3 xã thuộc huyện Duy Xuyên. Sở dĩ chúng chọn đập Vĩnh Trinh làm nơi bí mật thủ tiêu các chiến sĩ cách mạng bởi vì hai bên con đường đất từ làng vào đập là những rừng cây rậm rạp, ban đêm lại càng hoang vắng, không một bóng người qua lại nên rất khó bị lộ.

Ngay trưa hôm đó, chúng đã phân công một tốp lính, ngoài súng đạn đầy đủ, còn mang theo nhiều dụng cụ như búa, dao, rìu, dây dừa, dây kẽm gai, bao tời, dầu tây… cùng một chiếc ghe nan, tập trung tại khu đất bằng phẳng ở bờ phía đông, cách mặt đập chừng 20m. Chúng gom nhặt các tảng đá nằm rải rác ở xung quanh đồi núi mang tới địa điểm tập trung chờ đợi. Khi từng tốp người được dẫn tới bãi đất trống này thì chúng liền xô từng xâu người ngã sóng soài trên mặt đất rồi dùng búa, rìu đập đầu từng người bị bắt đến tắt thở.

Trong lúc giãy giụa, chống cự trước cái chết thê thảm, ông Lê Bài, cán bộ xã Duy Phước trốn thoát vào rừng nên trở thành người duy nhất còn sót lại trong vụ thảm sát đê hèn này.

Chúng cắt tai, hớt mũi, móc mắt và đổ dầu tây đốt cháy da mặt những người bị sát hại với mục đích nếu có người thân phát hiện tử thi thì cũng không thể nào nhận dạng được. Chúng cột những hòn đá vào các xác chết rồi bỏ lên ghe chèo ra ném giữa đập nước xanh thẳm mênh mông. Hành động xong, chúng nhanh chóng tẩy rửa các vũng máu loang lổ, xóa tất cả các dấu vết trên khu đất.

2(4).jpg
Một góc đập Vĩnh Trinh tại thôn Vĩnh Trinh, xã Thu Bồn, thành phố Đà Nẵng, nơi xảy ra vụ thảm sát năm 1955. Ảnh: THÁI MỸ

Khi nỗi đau cất thành câu hát

Sau vụ gieo tội ác tày trời này, trong làng quê ở Duy Xuyên và các vùng phụ cận bắt đầu xuất hiện rải rác các câu ca, hò vè đầy nỗi bi tráng, đau thương đầy căm phẫn như nén tâm nhang dành cho những người đã anh dũng hy sinh vì đất nước. Hình như những người truyền khẩu bằng các câu ca, hò vè đều nắm bắt rất rõ diễn biến về vụ thảm sát man rợ tại đập Vĩnh Trinh nên các từ ngữ gần như kể lại chi tiết về vụ việc: “Ba mươi bảy mạng trói tay một giờ/ Ai hay chúng nó phỉnh phờ/ Kêu cho về Tết nào ngờ biệt ly/ Từ chùa Bà Giám kéo đi/ Chia ra từng toán từ năm đến mười/ Thép gai chúng nó để y/ Phân ra từng đoạn trói y từng người/ Đổ dầu đốt cháy nóng chưa hỡi trời/ Ra tay cắt mũi, cắt rời lỗ tai/ Người đã chết cột lên hai hòn đá, bỏ vào bao chở thả đập Vĩnh Trinh…”.

Lời ca mô tả rất cụ thể, đặc sệt chất Quảng, như lúc bà Lê Thị Thanh nhìn thấy thi thể một người đàn ông mặt mũi cháy sạm đen thui được vớt lên từ lòng đập nhưng bà thấy người này mặc chiếc áo rách vai do chính tay bà vá mới nhận ra đó là chồng mình. Còn bà Nguyễn Thị Điểm nhận biết được con trai qua mấy trái ớt xanh mà bà đã gởi cho con khi giam tại chùa Bà Giám đang còn ba trái cất trong túi áo: “Nhìn chồng miếng vá rành rành/ Thò tay móc bị ớt xanh vẫn còn/ Ớt này mẹ gởi cho con/ Ăn hết hai trái nay còn lại ba…”.

Những câu ca đại loại như vậy thi thoảng được cất lên sau lũy tre, trên bãi bắp, bờ ruộng khắp các làng mạc, xóm thôn. Có người thuộc vài câu, có người mấy câu giữa, câu cuối, rồi có người thêm thắt vài từ theo ý mình thích nhưng tất cả toát lên sự đớn đau, tiếc thương vô hạn đối với những người đã nằm trong lòng đập Vĩnh Trinh sâu lạnh, đồng thời cũng là lời tố cáo đanh thép sự tàn bạo của chính quyền Ngô Đình Diệm.

Thể loại dân gian truyền khẩu thì sự thiếu nhất quán về câu từ là chuyện thường tình, chẳng hạn như hai câu đầu của hò vè lúc mới phổ biến là: “Đập Vĩnh Trinh ơi xé đường mây kêu thấu/ Đập Vĩnh Trinh ơi nung nấu thịt da” nên sau này nghệ sĩ Huỳnh Minh Nhơn, người đã từng lăn lộn hoạt động nghệ thuật dân ca bài chòi ở chiến trường Liên khu 5, nhất là mặt trận xứ Quảng đã sưu tầm, tập hợp, chỉnh sửa, biên soạn một số ca từ, trong đó có câu “đập Vĩnh Trinh ơi nung nấu thịt da” thành “đập Vĩnh Trinh ơi ghi tạc dấu căm hờn” để có bài dân ca Đập Vĩnh Trinh hoàn chỉnh được phổ biến rộng rãi hiện nay gồm 509 ca từ.

Đập Vĩnh Trinh là bài dân ca nghẹn ngào, thẩm thấu nỗi lòng bi ai, não nuột của người đang sống dành cho bao anh linh hy sinh trong vụ thảm sát đẫm nước mắt. Đây là một tác phẩm nghệ thuật truyền thống lâu đời của đất Quảng, có sự lan tỏa mạnh mẽ và sức sống bền lâu.

THÁI MỸ