Xây dựng “bản đồ dân nguyện”
ĐNCT - Tiếp xúc cử tri là một trong những kênh quan trọng để đại biểu dân cử trực tiếp lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, phản ánh của nhân dân; đồng thời chuyển tải những vấn đề phát sinh từ thực tiễn đời sống đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.

“Bản đồ dân nguyện” có thể được hiểu là công cụ trực quan hóa và theo dõi toàn bộ vòng đời của ý kiến, kiến nghị của người dân, từ khi tiếp nhận đến khi xử lý và phản hồi. Cốt lõi là chuyển công tác dân nguyện từ việc ghi nhận, tổng hợp đơn thuần sang một quy trình có thể theo dõi, quản lý và giám sát theo trình tự: Tiếp nhận ➔ Phân loại ➔ Chuyển xử lý ➔ Theo dõi ➔ Đôn đốc ➔ Giám sát ➔ Phản hồi.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản lý thông tin dân nguyện. Nếu kiến nghị chỉ được tổng hợp thành các danh mục trong báo cáo định kỳ, rất khó hình dung vấn đề đang tập trung ở đâu, thuộc trách nhiệm của cơ quan nào, đã được xử lý đến đâu, vì sao chậm trễ và vấn đề nào có nguy cơ tái diễn.
Trong bối cảnh đó, ý tưởng xây dựng “Bản đồ dân nguyện” tại thành phố Đà Nẵng sẽ mở ra hướng tiếp cận mới: Chuyển dữ liệu kiến nghị của cử tri từ những thông tin rời rạc thành hệ thống dữ liệu có cấu trúc, có địa chỉ, có trạng thái và có thể theo dõi xuyên suốt quá trình giải quyết nhằm đổi mới phương thức nắm bắt tiếng nói nhân dân, nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử và hướng tới quản trị dân nguyện minh bạch, có trách nhiệm, dựa trên cơ sở dữ liệu.
Dân nguyện trong không gian số
Sau hợp nhất, Đà Nẵng có không gian phát triển rộng hơn. Cùng với việc tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, yêu cầu phân định thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa thành phố với xã, phường dần dần trở nên rõ nét hơn.
Quy mô không gian hành chính mở rộng đồng nghĩa các vấn đề dân sinh đa dạng, phức tạp hơn. Có kiến nghị chỉ liên quan đến một khu dân cư; có vấn đề liên quan nhiều địa bàn, nhiều ngành; có vấn đề thuộc thẩm quyền xã, phường, trong khi những vấn đề khác thuộc cấp thành phố hoặc phụ thuộc vào quy hoạch, nguồn lực đầu tư, trình tự thủ tục và quy định pháp luật…
Thực tiễn từ ngày 1/7/2025 đến nay cho thấy quy mô công việc dân nguyện ngày càng lớn. Thường trực HĐND thành phố đã tổ chức 4 đợt để đại biểu HĐND thành phố tiếp xúc cử tri tại 122 điểm, tiếp nhận và tổng hợp 1.345 kiến nghị. Trong đó, 10 kiến nghị được chuyển cơ quan Trung ương; 1.096 kiến nghị chuyển UBND thành phố; 1 kiến nghị chuyển tòa án và 249 kiến nghị chuyển UBND các xã, phường.
Những con số này cho thấy khối lượng thông tin dân nguyện lớn và phân bố trên nhiều cấp độ thẩm quyền. Vì vậy, yêu cầu đặt ra không còn đơn giản là “tiếp nhận được bao nhiêu kiến nghị”, mà phải trả lời được: Kiến nghị đang ở đâu? Thuộc trách nhiệm của cơ quan nào? Đã được xử lý đến đâu? Đang vướng ở khâu nào? Vì sao chậm? Khi nào hoàn thành? Kết quả thực tế có giải quyết được vấn đề người dân phản ánh hay chưa? Nếu không trả lời được những câu hỏi đó, công tác dân nguyện dễ rơi vào tình trạng “đầu vào đầy đủ nhưng đầu ra khó đo lường”.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Thường trực HĐND thành phố, các ban và các tổ đại biểu HĐND thành phố đã triển khai nhiều hình thức giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri; tổ chức khảo sát, giám sát tại các cơ quan, đơn vị; lồng ghép nội dung này vào các cuộc giám sát thường kỳ và tổ chức các phiên họp để UBND thành phố, các đơn vị liên quan giải trình, tháo gỡ khó khăn, xử lý những vấn đề nổi cộm.
Tuy nhiên, thực tế vẫn cho thấy một số hạn chế trong tổng hợp, phân loại, theo dõi và trả lời kiến nghị của cử tri. Một số ý kiến còn chung chung, chưa xác định rõ nội dung, địa điểm, đối tượng hoặc vấn đề cần giải quyết; còn tình trạng kiến nghị trùng lặp, phân loại chưa đúng thẩm quyền, lĩnh vực hoặc chưa xác định rõ cơ quan chủ trì.
Chất lượng trả lời ở một số cơ quan, đơn vị chưa đồng đều. Có trường hợp mới dừng ở cung cấp thông tin, nêu hiện trạng mà chưa làm rõ nguyên nhân, giải pháp, thời gian và lộ trình thực hiện. Một số vấn đề phức tạp, kéo dài trong các lĩnh vực đất đai, quy hoạch, giải phóng mặt bằng, hạ tầng, môi trường, dự án đầu tư... chưa được giải quyết dứt điểm.
Đối với những vụ việc liên quan nhiều ngành, nhiều cấp, việc phối hợp đôi lúc chưa đồng bộ; quá trình chuyển, xin ý kiến và xử lý qua nhiều cơ quan làm kéo dài thời gian. Đáng chú ý, có trường hợp đã có kết luận hoặc hướng xử lý nhưng việc tổ chức thực hiện còn chậm, dẫn đến công dân tiếp tục kiến nghị nhiều lần. Công tác theo dõi, đôn đốc và giám sát ở một số lĩnh vực chưa thật sự đến cùng; chưa xác định rõ cá nhân hoặc đơn vị chịu trách nhiệm chính về tiến độ và kết quả cuối cùng.

Trong khi đó, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ tổng hợp, quản lý và theo dõi kiến nghị còn hạn chế, việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung chưa hoàn thiện, gây khó khăn trong tra cứu, thống kê, nhận diện các vụ việc tồn đọng, kéo dài hoặc tái diễn.
Những hạn chế này cho thấy yêu cầu đổi mới không chỉ nằm ở khâu tiếp nhận và trả lời, mà phải bao quát toàn bộ vòng đời của một kiến nghị, từ tiếp nhận, phân loại, xác định thẩm quyền, chuyển xử lý đến theo dõi, đôn đốc, giám sát và xác nhận kết quả.
Tại tọa đàm “Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tiếp xúc cử tri với đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND thành phố trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp” do Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố tổ chức, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Nguyễn Đình Vĩnh đã đặt vấn đề có nên nghiên cứu xây dựng “Bản đồ dân nguyện” của thành phố.
Về bản chất, “Bản đồ dân nguyện” có thể được hiểu là hệ thống dữ liệu trực quan hóa các ý kiến, kiến nghị của cử tri theo địa bàn, lĩnh vực, cơ quan chịu trách nhiệm, thời điểm phát sinh, tiến độ và kết quả giải quyết. Theo cách tiếp cận này, mỗi kiến nghị không còn chỉ là một dòng trong bảng tổng hợp mà trở thành một “điểm dữ liệu” có hồ sơ và lịch sử xử lý.
Khi lựa chọn một địa bàn, cơ quan dân cử có thể nhận diện những nhóm vấn đề được người dân phản ánh nhiều nhất. Khi lựa chọn một lĩnh vực, có thể theo dõi kiến nghị về đất đai, quy hoạch, giao thông, môi trường, an sinh xã hội... đang tập trung ở đâu và thuộc trách nhiệm của cơ quan nào.
Quan trọng hơn, hệ thống có thể hiển thị trạng thái của từng kiến nghị: Đã hoàn thành, đang xử lý, quá hạn, chưa thể giải quyết hoặc tái diễn. Từ đó hình thành một “bức tranh dân nguyện” được cập nhật liên tục.
Đây là điểm khác biệt giữa số hóa hồ sơ và quản trị dữ liệu dân nguyện. Nếu số hóa chỉ chuyển tài liệu giấy thành dữ liệu điện tử thì “Bản đồ dân nguyện” hướng đến biến dữ liệu thành công cụ phục vụ quản lý, giám sát và ra quyết định.
Từ theo dõi từng kiến nghị đến nhận diện vấn đề
Giá trị lớn hơn của “Bản đồ dân nguyện” không chỉ nằm ở khả năng theo dõi từng kiến nghị mà còn ở khả năng phát hiện xu hướng. Nếu một khu vực liên tục xuất hiện kiến nghị về ngập úng, giao thông, môi trường hoặc quy hoạch, dữ liệu có thể cho thấy đây không còn là những phản ánh đơn lẻ mà là vấn đề cần được xem xét ở phạm vi rộng hơn.
Nếu cùng một vấn đề xuất hiện tại nhiều xã, phường, có thể thấy vấn đề đã vượt khỏi phạm vi một địa bàn và cần được nghiên cứu ở cấp thành phố. Nếu một kiến nghị lặp lại qua nhiều kỳ tiếp xúc cử tri, hệ thống có thể nhận diện đó là kiến nghị tái diễn hoặc tồn đọng.
Đây sẽ là cơ sở để cơ quan dân cử lựa chọn nội dung khảo sát, giám sát, giải trình hoặc chất vấn. Theo hướng này, dữ liệu dân nguyện có thể trở thành một “bộ cảm biến” phản ánh những vấn đề phát sinh từ cơ sở.
Hệ thống cũng có thể thiết lập cảnh báo đối với kiến nghị sắp đến hạn, quá hạn, tồn đọng hoặc được phản ánh nhiều lần. Lịch sử xử lý được lưu giữ sẽ giúp xác định vấn đề phát sinh từ thời điểm nào, đã được chuyển đến đâu, cơ quan nào trả lời và còn vướng mắc ở khâu nào. Đây là cơ sở để hoạt động giám sát chuyển mạnh từ giám sát theo báo cáo sang giám sát dựa trên dữ liệu và bằng chứng thực tiễn.
Để xây dựng “Bản đồ dân nguyện”, cần một lộ trình phù hợp, bắt đầu từ chuẩn hóa quy trình, dữ liệu và trách nhiệm, trước khi mở rộng các tính năng công nghệ. Trước hết, cần thống nhất bộ tiêu chí dữ liệu và quy trình xử lý kiến nghị trên toàn thành phố; xây dựng mã định danh cho từng kiến nghị; thống nhất cách phân loại lĩnh vực, địa bàn, thẩm quyền và trạng thái xử lý.
Tiếp đó, hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung giữa các cơ quan liên quan, bảo đảm nguyên tắc liên thông, phân quyền, an toàn thông tin và trách nhiệm cập nhật dữ liệu. Trên nền tảng đó, từng bước phát triển các chức năng trực quan hóa, cảnh báo quá hạn, nhận diện kiến nghị tái diễn, phân tích theo địa bàn và lĩnh vực; đồng thời kết nối với các kênh tiếp nhận phản ánh, cơ chế giám sát của HĐND, hoạt động của Mặt trận và việc phản hồi kết quả cho cử tri.
Từ những dữ liệu đó, cơ quan dân cử có thêm cơ sở xác định vấn đề cần giám sát; cơ quan quản lý có thêm căn cứ để điều hành; người dân có thêm thông tin để theo dõi kết quả giải quyết.
MINH SƠN