Chung tay vì mục tiêu giảm nghèo bền vững
Hưởng ứng Ngày vì người nghèo (17/10), Đà Nẵng tiếp tục lan tỏa tinh thần tương thân tương ái, huy động sự chung tay của cả hệ thống chính trị và cộng đồng trong chăm lo đời sống người nghèo. Với mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, thực chất và bền vững, tại Kế hoạch số 352/KH-UBND của UBND thành phố giai đoạn 2026 - 2030, công tác giảm nghèo không chỉ dừng lại ở hỗ trợ trước mắt mà còn hướng đến tạo sinh kế, nâng cao khả năng tự chủ, hạn chế tái nghèo và phát sinh nghèo. Qua đó, từng bước hiện thực hó
Cộng đồng doanh nghiệp song hành
Bằng tinh thần sẻ chia và trách nhiệm cộng đồng, nhiều đơn vị, doanh nghiệp đóng chân trên địa bàn thành phố trích một phần lợi nhuận hằng năm; vận động thêm cán bộ, đảng viên, người lao động chung tay xây dựng quỹ an sinh nhằm hỗ trợ, tiếp sức cho người nghèo khó.
.jpg)
Mái ấm nghĩa tình
Gia đình bà Lê Khắc Thị Bạch Yến (tổ 4 Thuận Phước, phường Hải Châu) từng sống trong căn nhà cấp bốn xuống cấp... Thấu hiểu khó khăn của gia đình, Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Hải Châu vận động Công ty Điện lực Đà Nẵng hỗ trợ dựng lại mái ấm cho người dân.
Với kinh phí 80 triệu đồng do Công đoàn Điện lực Đà Nẵng hỗ trợ và 40 triệu đồng từ Quỹ vì người nghèo phường Hải Châu, gia đình bà Yến xây được ngôi nhà mới khang trang, bảo đảm nơi sinh sống an toàn cho cả gia đình. Ông Trần Thanh Bình, Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam phường Hải Châu cho biết, ngôi nhà mới là kết quả của sự góp sức, đồng lòng từ chính quyền địa phương, doanh nghiệp và người dân; là minh chứng cho tinh thần tương thân tương ái, sự chung tay của cộng đồng trong công tác chăm lo an sinh xã hội.
Niềm vui an cư cũng đến với vợ chồng ông Phan Thọ (thôn Trung Nam, xã Nông Sơn) khi vừa được Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Nông Sơn và Công ty Điện lực Đà Nẵng bàn giao nhà mới. Ủy ban MTTQ Việt Nam xã Nông Sơn phối hợp với Công ty Điện lực Đà Nẵng khảo sát và hỗ trợ 80 triệu đồng để xây nhà mới. Sau hơn 2 tháng thi công, căn nhà mới hoàn thành có diện tích sử dụng 44m2, gồm phòng khách, phòng ngủ, bếp và nhà vệ sinh, bảo đảm cuộc sống cho vợ chồng ông Thọ.

Ông Trần Đình Lành, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Công đoàn Công ty Điện lực Đà Nẵng cho biết, chương trình hỗ trợ xây nhà tình nghĩa là một trong những hoạt động an sinh xã hội được công ty duy trì suốt nhiều năm nay. Năm 2026, đơn vị hỗ trợ xây dựng 15 căn nhà tình nghĩa cho các gia đình chính sách và hộ khó khăn với tổng kinh phí 1,15 tỷ đồng. Trong đó, Công ty Điện lực Đà Nẵng hỗ trợ 10 căn, Tổng Công ty Điện lực miền Trung hỗ trợ 5 căn. Nguồn kinh phí này được vận động từ cán bộ, công nhân viên hai đơn vị, góp phần chung tay cùng chính quyền các địa phương chăm lo an sinh xã hội.
Nối dài trách nhiệm cộng đồng
Từ những mái ấm nghĩa tình, cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn thành phố tiếp tục nối dài hành trình sẻ chia và trách nhiệm với cộng đồng. Thực hiện chủ trương xóa nhà tạm, nhà dột nát, xã Thăng Bình có 91 hộ nghèo, cận nghèo có nhu cầu hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở, trong đó 45 hộ bảo đảm điều kiện hỗ trợ. Phát huy trách nhiệm vì cộng đồng, Công ty CP Đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng Nam Việt Á hỗ trợ 2 tỷ đồng để xây dựng 20 căn nhà đại đoàn kết cho các hộ khó khăn, với mức hỗ trợ bình quân 100 triệu đồng/căn.
Tại phường Hải Vân, phong trào “Mỗi chi bộ hỗ trợ ít nhất 1 hộ thoát nghèo” được các chi bộ, đảng bộ cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tham gia nhiệt tình. Năm 2026, các chi bộ, đảng bộ thuộc Đảng ủy Công ty CP Cao su Đà Nẵng đăng ký hỗ trợ 6 hộ nghèo trên địa bàn phường. Từ việc hỗ trợ sinh kế, phương tiện đi lại, vốn liếng làm ăn cho đến đồng hành, hướng dẫn cách thức làm kinh tế, Đảng ủy Công ty CP Cao su Đà Nẵng đặt mục tiêu đến cuối năm 2026 giúp 6 hộ dân vươn lên thoát nghèo.

Không chỉ trực tiếp hỗ trợ hộ nghèo, cộng đồng doanh nghiệp còn chung tay xây dựng Quỹ vì người nghèo các cấp. Đại diện Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố cho biết, tính đến ngày 15/9/2026, Ban Vận động Quỹ vì người nghèo các cấp tiếp nhận hơn 24,6 tỷ đồng. Từ nguồn này và nguồn hỗ trợ của Quỹ vì người nghèo Trung ương, Mặt trận thành phố phân bổ 29 đợt kinh phí để các địa phương hỗ trợ xây dựng, sửa chữa 303 nhà với tổng số tiền hơn 21,4 tỷ đồng; hỗ trợ sinh kế, khám chữa bệnh, học tập, trao tặng quà, trợ giúp khó khăn với tổng số tiền hơn 34,6 tỷ đồng.
Mới đây, ngày 9/10, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố tiếp tục phân bổ 30,3 tỷ đồng hỗ trợ xây mới 295 nhà với mức hỗ trợ 100 triệu đồng/căn và sửa chữa 16 nhà với mức hỗ trợ 50 triệu đồng/căn theo chủ trương xóa nhà tạm, nhà dột nát năm 2026 - 2027.
Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Nguyễn Thị Thanh Phương chia sẻ, Quỹ vì người nghèo các cấp được xây bằng sự chung tay không nhỏ của cộng đồng doanh nghiệp, tạo nguồn lực quan trọng để chăm lo, hỗ trợ người nghèo, hộ khó khăn. Qua đó, tiếp tục nối dài nhịp cầu nhân ái, nghĩa tình giữa doanh nghiệp với chính quyền địa phương, góp phần cùng thành phố thực hiện tốt mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội.
Mở rộng cơ hội việc làm
“Chìa khóa” then chốt và bền vững nhất để mở cánh cửa thoát nghèo là duy trì các hoạt động dạy nghề, đưa việc làm đến với người dân nông thôn, miền núi.

Tham gia ngày hội việc làm do Trung tâm Dịch vụ việc làm Đà Nẵng tổ chức tại phường An Khê, anh Trần Đức Hoàng (SN 1996, phường An Khê, ứng tuyển thành công vào vị trí giám sát công trình với mức thu nhập khá và đã đi làm được gần 2 tháng nay.
Chị Trần Thị Thanh Liên (SN 1995, phường An Khê) cũng tìm được việc làm mới thông qua ngày hội việc làm sau gần một năm nghỉ sinh và chăm con nhỏ. “Ngày hội việc làm mang đến cho tôi rất nhiều cơ hội, giúp tôi lựa chọn được công việc phù hợp khả năng, có thu nhập ổn định để chăm lo cuộc sống”, chị Liên nói.
Với phương châm “đưa việc làm về cơ sở”, từ đầu năm đến nay, Trung tâm Dịch vụ việc làm Đà Nẵng đẩy mạnh phối hợp với các xã khu vực nông thôn, miền núi để đưa việc làm về cơ sở, phục vụ nhu cầu tìm việc của người lao động.
Phó Chủ tịch UBND xã Trà Tân Nguyễn Thanh Tú cho biết, các phiên giao dịch việc làm là hoạt động thiết thực nhằm triển khai Tiểu dự án 3 - Hỗ trợ việc làm bền vững, thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2026. Người lao động được tiếp cận với doanh nghiệp, nhu cầu của thị trường lao động trong nước và việc làm ở nước ngoài, mở ra cơ hội để người dân vùng cao, nhất là người lao động thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo tìm được việc làm phù hợp, góp phần nâng cao thu nhập, thoát nghèo bền vững.

Đại diện Trung tâm Dịch vụ việc làm Đà Nẵng cho biết, tính đến ngày 6/10 đã tổ chức và phối hợp tổ chức 133 phiên giao dịch việc làm với nhiều hình thức. Qua đó, tư vấn, giới thiệu việc làm cho 4.370 lượt người, trong đó giới thiệu việc làm thành công cho 797 người. Bên cạnh việc làm trong nước, một bộ phận người lao động chọn hướng đi làm việc ở nước ngoài để nâng cao thu nhập. Tính đến tháng 10/2026, thành phố đã đưa 2.514 người lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó có 1.310 người đi làm việc theo hợp đồng và 1.204 người đi làm việc thời vụ.
Để góp phần mở rộng cơ hội việc làm cho người lao động, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Đà Nẵng tích cực giải ngân các chương trình: cho vay hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm. Qua đó, góp phần hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và mở rộng cơ hội đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài để nâng cao thu nhập.
Chị Hồ Thị Hiền (thôn Làng Gạch, xã Trà Liên) là người đồng bào Ca Dong, cuộc sống vốn khó khăn, thu nhập chủ yếu dựa vào nương rẫy. Tháng 7/2026, nghe tin địa phương có lớp nghề Kỹ thuật chế biến món ăn do Trường Cao đẳng Đà Nẵng đào tạo, chị đăng ký học để tìm thêm cơ hội cho bản thân. Sau 2 tháng học tập, chị Hiền biết thêm nhiều kiến thức, kỹ năng trong lĩnh vực ẩm thực và tự tin mở quán bán đồ ăn tại nhà. Nhờ đó, thu nhập và chất lượng cuộc sống dần cải thiện.
Nối tiếp thành công đó, đầu tháng 10/2026, Trường Cao đẳng Đà Nẵng phối hợp với xã Trà Liên khai giảng lớp đào tạo nghề Kỹ thuật chế biến món ăn cho người dân thôn Tak Nú. Học viên Huỳnh Thị Lệ (thôn Tak Nú) chia sẻ: “Trước đây, chúng tôi muốn học thêm tay nghề nấu ăn để đi làm hoặc mở hàng quán kinh doanh nhỏ nhưng gặp khó khăn về thời gian và chi phí đi lại. Việc nhà trường đưa lớp học về tận nơi là cơ hội vô cùng quý giá để người lao động miền núi được học nghề ngay tại địa phương”.

Tại xã Avương, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp Âu Việt Á (thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo) cũng vừa khai giảng lớp đào tạo Kỹ năng nghề pha chế cho 171 học viên. Ông Lưu Văn Khương, Phó Chủ tịch UBND xã Avương cho biết, lớp đào tạo nghề tạo điều kiện để người lao động học thêm nghề mới. Qua đó nâng cao cơ hội việc làm và cải thiện thu nhập, hướng đến mục tiêu giảm nghèo bền vững.
PGS-TS. Vũ Thị Phương Anh, Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Đà Nẵng nói, công tác đào tạo nghề cho lao động vùng nông thôn và miền núi là một trong những nhiệm vụ quan trọng được nhà trường tập trung triển khai. Thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn, học viên được “cầm tay chỉ việc”, tiếp cận những kiến thức cơ bản, chú trọng thực hành để nâng cao tay nghề. Qua đó, tạo tiền đề quan trọng để học viên tìm kiếm việc làm hoặc tự tạo việc làm cho bản thân thông qua việc mở các dịch vụ buôn bán, kinh doanh tại địa phương để nâng cao thu nhập, thoát nghèo bền vững.
Tính đến hết tháng 9/2026, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố đã giải ngân cho 266 lượt khách hàng vay gần 12 tỷ đồng theo Chương trình cho vay hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Bên cạnh đó, giải ngân cho 28.761 lượt khách hàng vay 2.663 tỷ đồng theo Chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì, mở rộng việc làm.
Ưu tiên nguồn lực, phát triển sinh kế phù hợp
Giảm nghèo bền vững phải bắt đầu từ giải quyết nguyên nhân nghèo, phát triển sinh kế phù hợp và sử dụng hiệu quả nguồn lực. Trao đổi với phóng viên, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Vũ Thị Bích Hậu cho biết:
Muốn giảm nghèo bền vững phải giải quyết đúng nguyên nhân, tạo sinh kế ổn định và nâng cao khả năng tự vươn lên của người dân. Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với việc thiết kế và tổ chức thực hiện chính sách trong giai đoạn tới.
.jpg)
* Thưa bà, để người nghèo chuyển từ tâm lý “trông chờ hỗ trợ” sang “chủ động vươn lên thoát nghèo”, thành phố cần tập trung những giải pháp gì?
- Trước hết, phải thay đổi cách tiếp cận, chuyển từ hỗ trợ theo chính sách sẵn có sang hỗ trợ theo nguyên nhân nghèo, điều kiện và nhu cầu thực tế của từng hộ. Mỗi hộ có hoàn cảnh và khả năng vươn lên khác nhau. Vì vậy, cần phân loại chính xác để lựa chọn giải pháp phù hợp. Hộ có khả năng lao động phải được ưu tiên tiếp cận vốn, đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật và kết nối việc làm. Hộ không có khả năng lao động phải được bảo đảm chính sách an sinh xã hội.
Đối với miền núi, phát triển sinh kế cần dựa trên lợi thế về kinh tế rừng, kinh tế vườn, cây dược liệu, sản phẩm đặc trưng và du lịch cộng đồng. Việc hỗ trợ sản xuất phải gắn với thị trường, không dừng ở việc cấp cây giống, con giống hay vật tư mà cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã để tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng và tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời đổi mới công tác tuyên truyền, vận động bằng những mô hình hiệu quả và những hộ thoát nghèo tiêu biểu. Khi nhìn thấy cơ hội và lợi ích thực tế, người dân sẽ có thêm động lực chủ động vươn lên.
Quan điểm của chúng tôi là Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ ban đầu và đồng hành, nhưng người dân phải là chủ thể của quá trình thoát nghèo. Giá trị của chính sách không nằm ở số tiền đã hỗ trợ mà ở sinh kế, việc làm và thu nhập được tạo ra sau hỗ trợ.

* Trong giai đoạn 2026 - 2030, thành phố phân bổ nguồn lực như thế nào để ưu tiên các địa bàn vùng sâu, vùng xa, thưa bà?
- Nguyên tắc xuyên suốt là ưu tiên địa bàn khó khăn nhưng không phân bổ dàn trải, bảo đảm công bằng đi đôi với hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Theo cơ chế phân bổ của thành phố, xã khu vực III được áp dụng hệ số 50, khu vực II là 45, khu vực I và xã an toàn khu là 40, xã đồng bằng là 30 và phường là 10. Mỗi thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được cộng thêm hệ số 1 vào tổng điểm phân bổ. Thành phố cũng giảm áp lực đối ứng ngân sách cho địa phương miền núi. Xã khu vực III được khuyến khích bố trí vốn đối ứng, xã khu vực II đối ứng tối thiểu 5%, trong khi các xã đồng bằng là 15%.
Cùng với ưu tiên nguồn vốn, thành phố đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp. Cụ thể, các hộ đủ điều kiện được hỗ trợ thiết bị lọc nước sinh hoạt tối đa 4 triệu đồng/hộ. Các mô hình phát triển sinh kế, kinh tế xanh, dược liệu và du lịch nông thôn có mức hỗ trợ tối đa 50 triệu đồng/hộ đối với hộ thuộc nhóm đối tượng được hưởng mức hỗ trợ 100%, hoặc 40 triệu đồng/hộ đối với hộ mới thoát nghèo được hỗ trợ tối đa 80%. Đáng chú ý, Nghị quyết số 64/2026/NQ-HĐND còn có chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững, trong đó hỗ trợ bảo hiểm y tế và lãi suất vay theo điều kiện quy định, giúp người dân củng cố sinh kế, hạn chế nguy cơ tái nghèo.

* Theo bà, để chính sách phát huy hiệu quả và bảo đảm giảm nghèo bền vững, trách nhiệm của chính quyền địa phương được đặt ra như thế nào?
- Hiệu quả giảm nghèo phụ thuộc rất lớn vào năng lực và trách nhiệm tổ chức thực hiện của chính quyền cơ sở. Chính sách dù tốt nhưng xác định sai đối tượng, lựa chọn mô hình không phù hợp hoặc thiếu giám sát thì khó mang lại kết quả bền vững. Trước hết, chính quyền cấp xã phải nắm chắc hoàn cảnh từng hộ, xác định đúng nguyên nhân nghèo và lựa chọn giải pháp hỗ trợ phù hợp. Mỗi mô hình sinh kế cần có phương án thực hiện, khả năng tiêu thụ sản phẩm và tiêu chí đánh giá hiệu quả cụ thể. Đặc biệt, phải chuyển từ quản lý theo đầu vào sang đánh giá theo kết quả.
Cùng với đó, tăng cường công khai, minh bạch, giám sát sau hỗ trợ và xác định rõ trách nhiệm của người đứng đầu. Đối với hộ mới thoát nghèo, cần tiếp tục theo dõi, hỗ trợ phù hợp để củng cố kết quả. Đối với hộ không có khả năng lao động, phải bảo đảm an sinh xã hội, không để người dân bị bỏ lại phía sau.
Giảm nghèo bền vững không đơn thuần là đưa một hộ ra khỏi danh sách hộ nghèo, mà phải giúp họ có điều kiện đứng vững và tiếp tục phát triển sau khi thoát nghèo. Đó cũng là mục tiêu Đà Nẵng hướng đến: nguồn lực được sử dụng hiệu quả, chính quyền đồng hành có trách nhiệm và người dân có đủ điều kiện, động lực để chủ động vươn lên, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa miền núi và đồng bằng.
- Trân trọng cảm ơn bà!
Nội dung: LAM PHƯƠNG - HUY HOÀNG - KIM PHƯỢNG
Trình bày: MINH TẠO
LAM PHƯƠNG - HUY HOÀNG - KIM PHƯỢNG