baodanang.vn

Văn hóa

Quy hoạch Đà Nẵng và câu chuyện công nghiệp nội dung

NGUYỄN PHƯƠNG KHÁNH

ĐNCT - Quy hoạch mới của Đà Nẵng đã dành chỗ cho trường quay, trung tâm hậu kỳ điện ảnh, thiết chế nghệ thuật, không gian sáng tạo và hạ tầng số. Những dự kiến ấy gợi ra suy nghĩ: từ việc bố trí không gian và công trình đến sự hình thành một ngành công nghiệp thực sự, thành phố còn cần chuẩn bị những gì?

le-do-2.jpg
Ngày 26/9, Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh thành phố Đà Nẵng tổ chức lớp học “Quay phim - chụp hình trên Smartphone” thu hút đông đảo học sinh, sinh viên các trường trên địa bàn thành phố tham gia. Ảnh: X.D

Từ không gian quy hoạch đến hệ sinh thái sáng tạo

Quyết định số 773/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch thành phố thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 mở ra hình dung mới về tương lai thành phố. Bên cạnh công nghệ cao, tài chính, logistics và du lịch, quyết định này cho thấy “thành phố đáng sống” đã đặt mục tiêu đưa công nghiệp văn hóa trở thành “ngành kinh tế dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao”; đồng thời dự kiến hình thành tổ hợp công nghiệp văn hóa, trung tâm sáng tạo, trường quay, trung tâm hậu kỳ điện ảnh, nhà hát và không gian sự kiện. Truyền thông mới và dịch vụ nội dung số an toàn cũng được đề cập trong định hướng phát triển công nghệ cao.

Nếu đặt những nội dung này cạnh nhau, có thể nhận ra một lĩnh vực nằm ở giao điểm của văn hóa, nghệ thuật, công nghệ, giáo dục, truyền thông và du lịch: Công nghiệp nội dung.

Tuy vậy, các thành phần của nó hiện vẫn phân bố trong nhiều nhóm khác nhau của quy hoạch. Điều này là dễ hiểu đối với một văn bản có phạm vi rộng, nhưng cũng khiến người đọc nghĩ xa hơn về khâu thực hiện. Liệu những mảnh ghép ấy có thể được nối lại thành một chuỗi giá trị sáng tạo, thay vì tiếp tục vận hành theo từng lĩnh vực riêng biệt?

Trong danh mục dự án, trường quay là một chi tiết đáng chú ý. Nếu Đà Nẵng có một trường quay quy mô, cùng với tận dụng lợi thế cảnh quan và bản sắc văn hóa địa phương, chúng ta có quyền hy vọng sẽ thu hút các đoàn phim trong nước và quốc tế. Chẳng hạn phim trường Hoàng Điếm nổi tiếng (thuộc thành phố Đông Dương, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc) đã tạo nên hệ sinh thái sản xuất - dịch vụ - du lịch cực kỳ thành công.

Nhìn lại các mùa liên hoan phim quốc tế DANAFF thành công rực rỡ và có nhiều tiếng vang, dự án đầu tư trường quay cho thấy Đà Nẵng đã bắt đầu hình dung cụ thể hơn về điện ảnh và sản xuất nghe nhìn.

Dẫu vậy, trường quay trước hết vẫn là cơ sở vật chất. Để một ngành điện ảnh hình thành (và xa hơn là thành phố điện ảnh), xung quanh nó còn phải có người viết kịch bản, đạo diễn, nhà sản xuất, diễn viên, kỹ thuật viên, doanh nghiệp hậu kỳ, hệ thống phát hành và công chúng đủ rộng.

Phía sau trường quay là cả chuỗi hoạt động, từ phát triển ý tưởng, tìm vốn, tổ chức sản xuất đến phát hành và quản trị bản quyền. Giá trị của công trình vì thế còn nằm ở khả năng giúp các chủ thể địa phương tham gia chuỗi này, tích lũy kinh nghiệm và tạo việc làm. Nếu sự kết nối này chưa được chuẩn bị, trường quay có thể chủ yếu làm chức năng cung cấp địa điểm và dịch vụ.

Đà Nẵng vẫn có lợi ích khi đón các đoàn phim, nhưng phần giá trị dài hạn, từ ý tưởng, tác phẩm đến quyền sở hữu, có thể tiếp tục thuộc về những chủ thể bên ngoài. Bởi vậy, bên cạnh câu hỏi trường quay đặt ở đâu và hoàn thành khi nào, có lẽ cần thêm một câu hỏi khác: Đà Nẵng mong muốn giữ vị trí nào trong chuỗi sản xuất điện ảnh?

Nhà hát, bảo tàng hay trung tâm văn hóa sáng tạo cũng đặt ra vấn đề tương tự. Kiến trúc và thiết bị hiện đại là điều kiện thuận lợi, song sức sống của thiết chế còn phụ thuộc chương trình, đội ngũ vận hành và khả năng hình thành công chúng. Số hóa bảo tàng cũng chưa mặc nhiên tạo ra một cách kể chuyện mới.

Sáng tạo từ nội lực địa phương

Định hướng xây dựng Đà Nẵng thành thành phố sự kiện cũng nên được nhìn trong cả hai chiều. Sự kiện lớn mang lại tiếng vang, dòng khách và nguồn thu. Nhưng nếu chương trình, công nghệ, nhân lực chuyên môn và bản quyền phần lớn đến từ bên ngoài, năng lực còn lại tại địa phương có thể chưa nhiều. Điều đáng quan tâm còn là những gì thành phố học được và tiếp tục sản xuất sau sự kiện.

Vì thế, cùng với việc chuẩn bị công trình, Đà Nẵng có thể khảo sát hệ sinh thái hiện hữu: Người sáng tạo, doanh nghiệp đang hoạt động, thị trường họ hướng đến và những điểm nghẽn cụ thể. Bản đồ năng lực này sẽ giúp quy mô đầu tư gần hơn với nhu cầu, đồng thời nhận ra các hạt nhân cần được hỗ trợ trước khi thiết chế mới đi vào vận hành.

Lâu nay, quan hệ giữa văn hóa và phát triển địa phương chủ yếu được nhìn qua du lịch: di sản tạo điểm đến, lễ hội thu hút khách, làng nghề cung cấp quà lưu niệm. Đây vẫn là hướng khai thác cần thiết. Tuy nhiên, nếu lượng khách trở thành thước đo nổi bật nhất, văn hóa đôi khi bị thu gọn thành cảnh quan, tiết mục hoặc vài biểu tượng dễ nhận diện.

Công nghiệp nội dung có thể mở thêm một hướng đi. Những câu chuyện về thương cảng Hội An, văn hóa Chăm, ký ức về biển hay tri thức bản địa có thể tiếp tục đời sống của mình trong sách, phim, hoạt hình, trò chơi, triển lãm tương tác hoặc học liệu. Khi đó, văn hóa không chỉ đưa con người đến một địa điểm; chính nó có thể đi đến với công chúng ở nhiều nơi và gia tăng giá trị qua những lần kể lại, chuyển thể.

mlinh-17683832551882089774738.webp
Khóa K-27 ngành Thiết kế Đồ họa của Đại học Duy Tân có 4 sinh viên lựa chọn làm đồ án tốt nghiệp là phim hoạt hình 3D và cả 4 bộ phim đều nhận được sự quan tâm lớn. Trong ảnh: Mạch Liên Lạc của sinh viên Nguyễn Thị Mỹ Linh. Ảnh: ĐVCC

Song ở đây xuất hiện một câu hỏi không dễ trả lời: ai kể, ai sở hữu và ai hưởng lợi? Nếu chất liệu địa phương được các doanh nghiệp bên ngoài khai thác, còn cộng đồng chủ yếu cung cấp cảnh quan, tri thức và hình ảnh, phần giá trị dài hạn có thể không ở lại Đà Nẵng.

Một thành phố xuất hiện trong nhiều bộ phim chưa chắc đã có ngành điện ảnh. Tương tự, được nhắc đến thường xuyên trên các nền tảng không có nghĩa địa phương đã nắm được quyền phát triển những nội dung liên quan đến mình.

Bởi vậy, bên cạnh quảng bá di sản, thành phố có thể quan tâm hơn đến việc tạo lập và sở hữu tài sản nội dung. Một ngân hàng tài nguyên xứ Quảng, tập hợp hồ sơ di tích, truyện kể, ký ức, âm thanh, ngôn ngữ, hoa văn và tri thức dân gian, có thể phục vụ nghiên cứu, giáo dục và sáng tạo. Việc khai thác cần đi cùng quy định thận trọng về quyền tác giả, quyền của cộng đồng và chia sẻ lợi ích; không phải chất liệu nào cũng có thể được sử dụng theo cùng một cách.

Đà Nẵng cũng khó phát triển đồng thời mọi phân ngành. Một lựa chọn có cân nhắc có thể ưu tiên điện ảnh và hậu kỳ; hoạt hình và trò chơi; di sản số và nội dung giáo dục; thiết kế trải nghiệm. Đây là những lĩnh vực tương đối phù hợp với hạ tầng công nghệ, hệ thống đại học, tài nguyên văn hóa và thị trường du lịch của thành phố. Việc tập trung vào một số chuỗi có khả năng hình thành sớm có lẽ thiết thực hơn việc gắn nhãn “sáng tạo” cho quá nhiều dự án.

Giáo dục phải đi trước trong kinh tế sáng tạo

Đà Nẵng đang ưu tiên bán dẫn, AI, tự động hóa và dữ liệu. Nếu đào tạo chủ yếu nghiêng về kỹ thuật mà chưa chú ý đúng mức đến năng lực viết, nghiên cứu, thiết kế và diễn giải, Đà Nẵng có thể sở hữu công nghệ hiện đại nhưng vẫn phải sử dụng nội dung của nơi khác. Thành phố khi ấy tham gia kinh tế số khá tốt ở vai trò cung cấp hạ tầng và nhân lực kỹ thuật, trong khi năng lực tạo ra sản phẩm văn hóa có giá trị cao vẫn còn hạn chế.

Trò chơi lấy cảm hứng từ văn hóa Chăm cần lập trình viên, đồng thời cần nhà nghiên cứu, người viết kịch bản, họa sĩ và chuyên gia bản quyền. Bảo tàng số cần kỹ thuật 3D, nhưng trước hết phải có dữ liệu đáng tin cậy và cách kể đủ sức thuyết phục. AI cũng khó tự bảo đảm chiều sâu lịch sử hay quyền lợi cộng đồng.

Giáo dục vì thế nên đi trước một bước, thay vì chờ thị trường công nghiệp nội dung hình thành rồi mới cung cấp nhân lực. Đi trước ở đây không nhất thiết là vội vàng mở hàng loạt ngành học mang tên thời thượng. Nếu chỉ thay đổi tên ngành mà phương thức đào tạo vẫn như cũ, danh mục tuyển sinh có thể dài hơn nhưng năng lực mới chưa chắc xuất hiện.

Hướng phù hợp hơn có lẽ là đào tạo theo dự án và chuỗi sản xuất. Người làm nội dung số cần công nghệ, năng lực viết và quản trị dự án; người làm di sản số cần lịch sử, bảo tàng học, thiết kế và kỹ thuật. Phát triển trò chơi còn đòi hỏi hình ảnh, âm thanh và khả năng xây dựng thế giới; quản trị công nghiệp văn hóa cần hiểu thị trường và sở hữu trí tuệ.

Các trường đại học hiện nay đã bắt đầu bằng những phòng thí nghiệm và studio liên ngành dùng chung. Ở đó, sinh viên thử làm triển lãm tương tác, phim hoạt hình, trò chơi giáo dục hoặc học liệu từ chất liệu địa phương.

Sản phẩm vừa là kết quả học tập, vừa giúp kiểm nghiệm nhu cầu của công chúng và khả năng hợp tác với doanh nghiệp. Vai trò của đại học nhờ vậy không dừng ở cung cấp lao động, mà mở rộng sáng tạo ý tưởng, sản phẩm mẫu và những nhóm sáng tạo ban đầu.

Để hướng đi này khả thi, thành phố cần gửi tín hiệu chính sách tương đối rõ. Có thể cân nhắc một đầu mối điều phối công nghiệp nội dung; chuyển một phần nguồn lực hỗ trợ sự kiện sang đặt hàng phim, hoạt hình, trò chơi, học liệu số hoặc thiết kế trải nghiệm. Cách đánh giá cũng nên mở rộng: bên cạnh số công trình, sự kiện và lượt khách, cần quan sát tác phẩm, doanh nghiệp, việc làm sáng tạo và tài sản trí tuệ còn lại cho địa phương.

Từ quy hoạch mới, có lẽ Đà Nẵng cần xác định rõ hơn vị trí mình muốn đảm nhận trong chuỗi giá trị sáng tạo. Thành phố sẽ chủ yếu cung cấp bối cảnh, nhân công và dịch vụ cho nội dung do người khác sở hữu, hay từng bước trở thành nơi những câu chuyện được nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất và phát hành bởi các chủ thể tại chỗ?

Câu trả lời chưa thể có ngay. Dẫu vậy, nếu hạ tầng được đặt trong quan hệ với năng lực sản xuất, di sản được nhìn như nguồn tri thức còn có thể tiếp tục sáng tạo, còn giáo dục chủ động chuẩn bị những kiểu nhân lực mới, công nghiệp nội dung có thể trở thành một hướng phát triển đáng kể. Khi ấy, Đà Nẵng không chỉ được nhận biết qua cảnh quan và sự kiện, mà còn qua những câu chuyện do chính mình góp phần tạo ra.

NGUYỄN PHƯƠNG KHÁNH