baodanang.vn

Người xứ Quảng

“Bóng hồng” ngoại giao Phan Thị Minh Hiền

PHAN XUÂN QUANG

ĐNCT - Là một trong những số những “Bóng hồng” hiếm hoi trên mặt trận ngoại giao thập niên 70, 80 của thế kỷ XX, là thế hệ nữ đại sứ đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài, bà Phan Thị Minh Hiền vừa thể hiện nét duyên dáng, mền mại của người con gái Việt Nam, vừa thể hiện bản lĩnh kiên cường, sắc sảo trong thực hiện nhiệm vụ.

Đại sứ Phan Thị Minh Hiền (thứ 6, hàng đứng, phải sang) chụp ảnh lưu niệm cùng đoàn Anh hùng quân giải phóng Miền Nam do bà Tổng tư lệnh Nguyễn Thị Định (thứ 5, hàng đứng, phải sang) làm Trưởng đoàn tại Đại sứ quán Chính phủ miền Nam Việt Nam tại Tiệp khắc năm 1974. Ảnh: Tư liệu
Đại sứ Phan Thị Minh Hiền (thứ 6, hàng đứng, phải sang) chụp ảnh lưu niệm cùng đoàn Anh hùng quân giải phóng Miền Nam do bà Tổng tư lệnh Nguyễn Thị Định (thứ 5, hàng đứng, phải sang) làm Trưởng đoàn tại Đại sứ quán Chính phủ miền Nam Việt Nam tại Tiệp khắc năm 1974. Ảnh: Tư liệu

Tên tuổi của bà Phan Thị Minh Hiền gắn liền với những cột mốc quan trọng, để lại dấu ấn sâu sắc trong nền ngoại giao hiện đại của Việt Nam.

Từ nữ sinh Đồng Khánh

Bà Phan Thị Minh Hiền, tên thật là Phan Thị Phước, sinh ngày 03/03/1929 tại làng Hóa Đông, tổng Mỹ Hòa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, nay là xã Đại Lộc, thành phố Đà Nẵng.

Mồ côi mẹ từ năm 5 tuổi, bà sớm rèn luyện tinh thần tự lập. Với trí thông minh, học bậc tiểu học tại Trường Tiểu học Mỹ Hòa, năm 1941, bà đỗ đầu kỳ thi tiểu học toàn tỉnh Quảng Nam.

Cùng năm đó, bà ra Huế học bậc trung học tại Trường nữ sinh Đồng Khánh. Đến năm thứ ba, Nhật đảo chính Pháp, bà buộc phải rời trường về lại quê nhà.

Trở về quê hương, bà cùng bà Nguyễn Thị Ả (về sau là vợ nhà văn Võ Quảng) mở lớp truyền bá chữ Quốc ngữ và tích cực tham gia phong trào cách mạng tại địa phương.

Từ tháng 6/1945, bà lần lượt được cử làm Phó Bí thư Hội Phụ nữ cứu quốc huyện Đại Lộc, Ủy viên UBND cách mạng lâm thời tổng Mỹ Hòa, Bí thư Hội Phụ nữ cứu quốc tổng Mỹ Hòa, Bí thư Hội Phụ nữ huyện Đại Lộc rồi Phó Bí thư Hội Phụ nữ cứu quốc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng phụ trách công tác thanh thiếu nhi và huấn luyện. Đến tháng 5/1949, bà được điều động về Hội Phụ nữ cứu quốc liên khu 5, giữ chức Ủy viên Ban Thường vụ và Thường trực Ban Phụ vận.

Năm 1951, bà chuyển công tác sang cơ quan Đoàn, tham gia Ban Thường vụ Thanh niên cứu quốc và Thanh vận liên khu 5. Tháng 3/1952, bà ra chiến khu Việt Bắc dự Hội nghị Thanh vận toàn quốc và được phân công làm Quyền Chánh Văn phòng Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc.

Năm 1957, bà được cử đi học tại Trường Đoàn ở Liên Xô và tham gia Đại hội Liên hoan Thanh niên và Sinh viên thế giới lần thứ VI tại thủ đô Moskva.

Năm 1958, trở về nước, bà được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đoàn, phụ trách Trường Đoàn Thanh niên, rồi lần lượt giữ các chức vụ: Phó Trưởng ban Tuyên huấn, Phó Trưởng ban Nông nghiệp Thanh niên, Trưởng ban Nữ thanh niên, Giám đốc NXB Thanh niên. Đồng thời bà vẫn nỗ lực học tập để nâng cao trình độ tại Đại học Bách Khoa và Khoa Văn - sử Đại học Tổng hợp Hà Nội.

Những dấu ấn đại sứ

Bước ngoặt lớn trong sự nghiệp ngoại giao của bà là khi Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời ngày 6/6/1969, công tác ngoại giao được đặc biệt coi trọng, nhất là làm cho nhân dân tiến bộ và yêu chuộng hòa bình ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta.

Do đó, vào tháng 10/1969, bà được chọn, điều động sang Ủy ban Thống nhất Trung ương, giữ chức Vụ phó Vụ 1A (vụ lo về công tác quan hệ quốc tế nhân dân). Tại đây, bà luôn trau dồi tiếng Pháp, học thêm tiếng Anh và tiếng Nga. Tên gọi Phan Thị Minh Hiền cũng chính là bí danh được đặt khi bà chuyển sang làm công tác ngoại giao này.

Nhờ bản lĩnh kiên định và tài ứng xử khéo léo, chịu khó học hỏi, năm 1972, bà được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại nước Cộng hòa XHCN Tiệp Khắc.

Tháng 10/1976, sau khi đất nước thống nhất, từ Tiệp Khắc, bà về nước giữ chức Phó Vụ trưởng rồi Quyền Vụ trưởng Vụ kinh tế của Bộ Ngoại giao thống nhất.

Tiếp đến, với việc thông thạo tiếng Pháp, ngày 29/4/1983, bà lại được bổ nhiệm làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tại Cộng hòa Dân chủ Madagascar kiêm nhiệm Đại sứ tại Cộng hòa Seychelles, trở thành Đại sứ đầu tiên của Việt Nam khi Việt Nam mở Đại sứ quán tại đảo quốc này. Bà hoàn thành xuất sắc nhiệm kỳ và đến tháng 9/1987 trở về Bộ Ngoại giao và nghỉ hưu vào năm 1988.

Chinh phục bạn bè quốc tế

Trong suốt những năm tháng làm ngoại giao, bước chân của bà Phan Thị Minh Hiền đã in dấu trên nhiều quốc gia: Liên Xô, Thụy Điển, Pháp, Ý, Cu Ba, Canada, Mông Cổ, Algérie, Ai Cập… Đến đâu, bà cũng đem tình cảm và tính chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

Nhiều tài liệu còn ghi lại những kỷ niệm xúc động của bà trên trường quốc tế. Tại Ấn Độ, với tư cách là đại diện cho phụ nữ miền Nam trong đoàn Ủy ban Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, sự xuất hiện của bà đã gây ấn tượng mạnh mẽ.

Tình cảm của bạn dành cho bà và đoàn Việt Nam lớn lao đến mức, các đảng đối lập ở nước bạn đã gác lại mâu thuẫn để cùng tiếp đoàn, lập ra ban tổ chức đón tiếp chung và tổ chức mít-tinh cổ vũ đoàn kết với Việt Nam. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam nhỏ nhắn nhưng kiên cường đã tập hợp đông đảo người dân sở tại tham gia, nhiều công nhân, dân nghèo đi bộ hàng chục cây số để đến gặp và tận mắt “xem người Việt Nam như thế nào mà đánh thắng được Mỹ”.

Một ấn tượng nữa là chuyến đi gặp gỡ phụ nữ ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia tại Mỹ. Báo Phụ nữ Giải phóng của Mỹ có đăng một bức hình lớn ghi dòng chữ: “Chúng tôi đã kể chuyện cho nhau nghe, chúng tôi cười và bây giờ chúng tôi hành động”. Bà ngồi ở Đoàn Chủ tịch suốt ba tuần liền như thể chủ trì.

Bà Minh Hiền từng tâm sự: “Làm ngoại giao, dù nam hay nữ, điều cần có là phải không ngừng trau dồi về chuyên môn, học hỏi ở đồng nghiệp, khéo léo, tinh tế trong từng tình huống. Hạnh phúc nhất của người làm ngoại giao là bạn hiểu về Việt Nam và ủng hộ Việt Nam, uy tín của đất nước ngày càng nâng cao”.

Bà từ trần ngày 21/8/1998; sự nghiệp của bà xứng đáng với những lời khen tặng, phần thưởng cao quý của Đảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế dành cho bà, trong đó có Huân chương Vàng hữu nghị của Nhà nước Tiệp Khắc, Huân chương Quốc gia của Chính phủ Madagascar, Huân chương Kháng chiến hạng Hai, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huy chương “Vì thế hệ trẻ”, Huy chương “Vì sự nghiệp giải phóng Phụ nữ”, Huy chương “Vì sự nghiệp ngoại giao Việt Nam”.

PHAN XUÂN QUANG