baodanang.vn

Thế giới

Ai cũng yêu di sản, nhưng ít ai chịu chi

DIỆP TRẦN

ĐNCT - Gần như mọi quốc gia đều thừa nhận văn hóa quan trọng với phát triển, nhưng chỉ một phần tư số quốc gia trên thế giới có đủ phương tiện giữ gìn di sản của mình. Nghiên cứu mới của Quỹ Di tích thế giới cho thấy khoảng trống ấy đang rộng ra.

Ở cấp độ toàn cầu, UNESCO ghi nhận các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đã tạo ra 3,39% GDP thế giới. Ảnh minh họa: AI

Những trận mưa cực đoan gần đây đã nhấn chìm Wat Chaiwatthanaram, ngôi đền Phật giáo ven sông ở Thái Lan, đe dọa lớp gạch vốn đã mong manh. Thật dễ đổ lỗi cho thời tiết trong những tình huống di sản bị hư hại như vậy.

Nhưng khi Quỹ Di tích thế giới (WMF) phân tích 372 hồ sơ đề cử từ những người đang tham gia trực tiếp giữ gìn di tích khắp hành tinh, mối lo được nêu nhiều nhất lại không phải là mưa bão. Đó là tiền.

Lời ca ngợi không trả được hóa đơn

Trong số những người gửi hồ sơ đề cử cho WMF năm nay, 65% cho biết thiếu kinh phí và sức ép kinh tế là thách thức hàng đầu, tăng từ mức 55% của năm 2024. Mười điểm phần trăm chỉ sau một kỳ đề cử, tỉ lệ này khó có thể coi là chuyện nhỏ.

Điều lạ là xu hướng ấy diễn ra giữa lúc thế giới nói về văn hóa bằng những lời vô cùng tốt đẹp. Theo Báo cáo toàn cầu về chính sách văn hóa của UNESCO, 93% quốc gia gửi báo cáo công nhận tầm quan trọng của văn hóa trong kế hoạch phát triển bền vững.

Cũng chính báo cáo ấy cho biết chỉ 1/4 số nước có đủ phương tiện bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên của mình, tỉ lệ chung là hơn 9/10 nước nói có, nhưng chỉ 1 trong 4 nước làm được. Khoảng cách giữa hai con số ấy là nơi những di sản đang lặng lẽ biến mất.

Sẽ dễ hiểu hơn nếu đây chỉ là câu chuyện của các nước nghèo. Nhưng thực tế cho thấy không phải vậy.

Tại Mỹ, chương trình liên bang từng cấp tới 1,33 tỉ USD mỗi năm để bảo trì các di sản do Cục Công viên quốc gia quản lý đã kết thúc sau năm tài khóa 2025, dù công việc tồn đọng còn rất lớn. Tại Pháp, cơ quan kiểm toán nhà nước cảnh báo chỉ riêng những dự án di sản lớn nhất đã cần khoảng 5 tỉ euro trong mười năm tới. Tại Anh, chi tiêu của chính quyền địa phương cho di tích lịch sử đã giảm 47% kể từ năm tài khóa 2009-2010.

Nếu các nước giàu còn như thế, hãy hình dung phần còn lại của thế giới. Mức chi tiêu văn hóa tính theo bình quân đầu người ở nhóm nước thu nhập cao gấp hơn 2.000 lần nhóm nước thu nhập thấp.

Còn nguồn hỗ trợ quốc tế thì sao? Từ năm 1978, UNESCO phê duyệt trung bình 1 triệu USD mỗi năm cho các di sản thế giới, nay đã lên tới 1.273 địa danh. Chia đều ra, mỗi di sản nhận chưa tới 800 USD một năm.

Chúng ta đã quen gọi di sản là vô giá. Có phải vì thế mà số ngân sách người ta chi cho nó đang gần như sắp sửa bằng 0 tại rất nhiều nơi.

Cắt di sản là phép tính sai

Người ta thường biện minh cho việc cắt giảm ngân sách bảo tồn di sản bằng một lý lẽ nghe rất có trách nhiệm: thời buổi khó khăn, phải ưu tiên những thứ thiết yếu. Nghiên cứu của WMF đáp lại rằng khoản tiết kiệm ấy chỉ là trước mắt, còn thiệt hại kinh tế - xã hội về lâu dài sẽ lớn hơn nhiều.

Những người sống gần di tích nhất hiểu rất rõ điều đó. Có 63% bên đề cử nhìn thấy cơ hội để di sản đóng góp cho kinh tế địa phương, từ du lịch, việc làm tới tái thiết đô thị và nông thôn.

Ở cấp độ toàn cầu, UNESCO ghi nhận các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đã tạo ra 3,39% GDP thế giới. Một lĩnh vực có đóng góp như thế không nên và không thể bị coi là món trang sức để tháo ra khi túng thiếu.

Trong khi đó, 54% bên đề cử di sản xếp khí hậu và tính bền vững vào nhóm vấn đề hàng đầu. Ở châu Phi hạ Sahara, tỉ lệ hồ sơ nêu hiểm họa môi trường lên tới 83%, so với 74% của kỳ trước.

35% lo thiếu người có tay nghề trong khi chuyên gia bảo tồn tại chỗ và thợ thủ công truyền thống ngày càng hiếm. Mưa thì ngày một lớn hơn, thợ giỏi ít hơn, ngân sách mỏng hơn, dường như cả ba lĩnh vực đang cùng đi sai hướng.

Vậy có lối ra nào cho bài toán này không? Có, và nó đã được thử nghiệm ở chính những nơi WMF đang làm việc. Điểm chung của các dự án ấy là biến việc trùng tu thành việc đào tạo.

Ở Ai Cập, công trường Takiyyat Ibrahim al-Gulshani đồng thời là lớp học cho cán bộ của bộ chủ quản, giới chuyên môn địa phương và sinh viên. Ở Ghana, những người trông coi các công trình truyền thống Asante được học chính kỹ thuật xây dựng bản địa đã làm nên chúng. Còn ở Bồ Đào Nha, tu viện Alcobaça sẽ mở xưởng dạy sinh viên phục chế tượng đất nung baroque.

Nhờ vậy, tiền chi ra ở những nơi ấy mua được hai thứ: một di tích được cứu và một thế hệ biết cách cứu nó.

Bà Brinda Somaya, chủ tịch hội đồng chuyên gia quốc tế của World Monuments Watch, nhắc nhở rằng nhiều di tích mang trong mình “ký ức, sức chống chịu và bản sắc” của những cộng đồng gắn bó với chúng, nên bảo vệ di tích là việc vượt xa chuyện gìn giữ một địa điểm.

Wat Chaiwatthanaram cũng vậy. Nước rồi sẽ rút khỏi ngôi đền, nhưng câu hỏi là khi ấy người ta có còn tiền, và còn thợ, để sửa lại những viên gạch nguyên bản của di sản hay không.

World Monuments Watch là gì?

Ra đời năm 1996, World Monuments Watch là danh sách do WMF công bố hai năm một lần, gồm những di tích cần bảo vệ do cá nhân và tổ chức cộng đồng khắp thế giới đề cử. Đến nay, WMF đã chi hơn 125 triệu USD cho gần 350 địa điểm trong danh sách, giúp các cộng đồng huy động thêm 300 triệu USD từ nguồn khác.

Danh sách 2027 do một hội đồng chuyên gia quốc tế độc lập lựa chọn và sẽ công bố vào tháng 2/2027. Thành lập năm 1965, WMF đặt trụ sở tại New York và đã tham gia bảo tồn hơn 700 địa điểm ở 114 quốc gia.

DIỆP TRẦN