baodanang.vn

Giáo dục - Việc làm

Đào tạo sư phạm trước yêu cầu mới

THU HÀ - SONG KHUÊ - NHẬT HẠ

Đổi mới giáo dục đòi hỏi năng lực và phẩm chất của đội ngũ giáo viên ngày càng cao. Tại Đà Nẵng, nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm gắn với yêu cầu thực tiễn của trường phổ thông, tăng cường rèn luyện nghiệp vụ và bồi đắp đạo đức nghề nghiệp trở thành nhiệm vụ trọng tâm, góp phần xây dựng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.

Thay đổi phù hợp thực tế

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đặt nhà giáo vào vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập, giúp học sinh phát triển phẩm chất và năng lực. Sự thay đổi ấy đòi hỏi giáo viên vững chuyên môn, thành thạo phương pháp dạy học, hiểu tâm lý học sinh và biết khai thác công nghệ. Chương trình đào tạo sư phạm cần điều chỉnh tương ứng.

Sinh viên ngành Giáo dục Công dân, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) trong một giờ học
Sinh viên ngành Giáo dục Công dân, Khoa Sử - Địa - Chính trị, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) trong một giờ học. Ảnh: THU HÀ

Từ truyền đạt sang tổ chức học tập

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 tạo ra những thay đổi rõ nét trong hoạt động dạy và học ở các nhà trường. Giáo viên không còn truyền đạt kiến thức một chiều mà phải tổ chức các hoạt động để học sinh chủ động khám phá, vận dụng kiến thức, phát triển năng lực và hình thành phẩm chất. Sự chuyển đổi này đặt ra yêu cầu mới đối với quá trình đào tạo giáo viên.

Theo thầy Lê Mạnh Tấn, Phó Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Văn Thoại (phường Hòa Xuân), khi triển khai chương trình giáo dục mới, giáo viên phải biết thiết kế bài dạy phù hợp với đối tượng học sinh, tổ chức hoạt động học tập và xây dựng hình thức đánh giá đa dạng. Linh hoạt điều chỉnh cách dạy, lựa chọn học liệu và giáo viên phải tạo cơ hội để từng học sinh tham gia quá trình học tập.

Yêu cầu này thể hiện rõ trong các hoạt động dạy học tích hợp, giáo dục STEM, trải nghiệm, hướng nghiệp và giáo dục địa phương. Giáo viên kết nối kiến thức giữa các môn học, tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề thực tiễn, đồng thời theo dõi quá trình tiến bộ thay vì chỉ căn cứ vào kết quả của một bài kiểm tra.

Bên cạnh chuyên môn và phương pháp, năng lực quản lý lớp học cũng là yêu cầu quan trọng. Giáo viên cần có kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống sư phạm, phối hợp với phụ huynh và hỗ trợ học sinh khi gặp khó khăn về tâm lý, hành vi hoặc học tập.

Ở bậc tiểu học, yêu cầu này càng cụ thể hơn. Cô Huỳnh Thị Thu Nguyệt, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phan Đăng Lưu, phân hiệu Lê Đình Chinh (phường Hòa Cường) cho rằng, khi triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, những yêu cầu đối với giáo viên hiện nay đã thay đổi rất nhiều so với trước đây. Cụ thể, chương trình yêu cầu giáo viên phải thay đổi phương pháp dạy học từ “truyền thụ kiến thức” sang “phát triển phẩm chất và năng lực” của học sinh; từ dạy học một chiều sang tổ chức hoạt động. Giáo viên là người thiết kế, hướng dẫn và tổ chức các hoạt động học, học sinh được đặt ở vị trí trung tâm để tự khám phá, phản biện, thực hành và giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Thay đổi trong phương pháp dạy học
Yêu cầu đối với giáo viên khi triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018
Từ
Truyền thụ kiến thức
→
Sang
Phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh
Từ
Dạy học một chiều
→
Sang
Tổ chức hoạt động
Giáo viên
Người thiết kế, hướng dẫn và tổ chức các hoạt động học
Học sinh
Được đặt ở vị trí trung tâm để tự khám phá, phản biện, thực hành và giải quyết các vấn đề thực tiễn
Theo cô Huỳnh Thị Thu Nguyệt, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phan Đăng Lưu, phân hiệu Lê Đình Chinh (phường Hòa Cường)

Đổi mới đào tạo, chú trọng chất lượng đầu ra

Theo PGS-TS. Phạm Quý Mười, Trưởng khoa Toán - Tin, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng), đào tạo giáo viên cần hướng đến khả năng tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, nghiên cứu và thích ứng với thay đổi. Sinh viên phải được trang bị kiến thức chuyên môn, đồng thời biết vận dụng kiến thức vào thực tế dạy học, chủ động tìm tòi và điều chỉnh phương pháp trước những yêu cầu mới.

Khoảng cách giữa nội dung được học ở trường đại học và sự đa dạng của lớp học thực tế là thách thức đối với sinh viên sư phạm. Nếu thời lượng thực hành chưa đủ hoặc tình huống được tiếp cận còn đơn giản, sinh viên có thể lúng túng khi đứng lớp, quản lý học sinh, tổ chức hoạt động học tập hay phối hợp với phụ huynh.

Vì vậy, nâng chất lượng đào tạo cần bắt đầu từ việc xác định rõ những năng lực sinh viên phải đạt khi tốt nghiệp. Kết quả đào tạo không nên chỉ được nhìn nhận qua điểm số hoặc khối lượng kiến thức đã học mà cần thể hiện ở khả năng thiết kế kế hoạch bài dạy, xây dựng công cụ đánh giá, tổ chức hoạt động học tập và xử lý tình huống sư phạm.

Sinh viên ngành Sư phạm Địa lý, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) trong một giờ học
Sinh viên ngành Sư phạm Địa lý, Khoa Sử - Địa - Chính trị, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) trong một giờ học. Ảnh: NTCC

PGS-TS. Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho rằng, đào tạo giáo viên cần quan tâm đến nhu cầu thực tế và chất lượng đầu ra, thay vì tập trung vào số lượng. Nhà trường cần tiếp tục cập nhật nội dung, phương pháp đào tạo, tăng cường nghiên cứu khoa học và trang bị cho sinh viên năng lực ứng dụng công nghệ trong dạy học.

Nhà trường có đội ngũ chuyên môn trong các lĩnh vực khoa học giáo dục, phương pháp dạy học và công nghệ giáo dục, cùng hệ thống phòng thực hành, thiết bị STEM, studio, thiết bị mô phỏng và phòng dạy học vi mô phục vụ đào tạo. Đây là những điều kiện hỗ trợ việc đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và tổ chức thực hành. Tuy nhiên, cơ sở vật chất chỉ phát huy hiệu quả khi được tích hợp vào hoạt động học tập cụ thể, giúp sinh viên thực sự rèn luyện năng lực nghề nghiệp.

Đáp ứng nhu cầu nhân lực không chỉ dựa vào tuyển dụng. Các cơ sở đào tạo cần thường xuyên trao đổi với ngành giáo dục và trường phổ thông để cập nhật yêu cầu nghề nghiệp, điều chỉnh nội dung thực hành và đánh giá năng lực người học. Về phía ngành giáo dục, việc bố trí, điều động giáo viên và giảm áp lực hành chính cũng cần được triển khai đồng bộ để giáo viên có thêm thời gian cho chuyên môn.

Tạo trải nghiệm nghề nghiệp cho sinh viên

Trước yêu cầu tăng trải nghiệm nghề nghiệp, gắn kết chặt chẽ với trường phổ thông và cập nhật năng lực công nghệ số, sinh viên ngành sư phạm được rèn luyện thường xuyên, đánh giá qua những nhiệm vụ thực tế để tự tin đảm nhận công việc ngay sau khi tốt nghiệp.

Đưa thực hành thành trục xuyên suốt

Theo thầy Lê Mạnh Tấn, Phó Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Văn Thoại (phường Hòa Xuân), chương trình đào tạo giáo viên cần bổ sung các mô-đun kỹ năng gắn với công việc thực tế tại trường phổ thông. Trong đó, chú trọng tâm lý học đường, xử lý khủng hoảng tâm lý và hành vi học sinh, giao tiếp với phụ huynh, xây dựng ma trận và biên soạn đề kiểm tra đánh giá năng lực. Năng lực ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thiết kế học liệu số phù hợp với từng bộ môn cũng cần được quan tâm.

Một giờ sinh hoạt chuyên đề của học sinh Trường Tiểu học Ngô Mây
Một giờ sinh hoạt chuyên đề của học sinh Trường Tiểu học Ngô Mây (phường An Hải). Ảnh: SONG KHUÊ

Theo thầy Tấn, yêu cầu đặt ra không dừng ở việc sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn hay phương pháp giảng dạy, mà cần phải biết vận dụng vào những tình huống cụ thể. Chương trình đào tạo dành nhiều cơ hội để sinh viên tiếp cận công việc của giáo viên, từ tổ chức hoạt động học tập, kiểm tra đánh giá đến quản lý lớp và xử lý các vấn đề phát sinh trong môi trường học đường.

Bên cạnh đó, thay vì tập trung phần lớn thời gian thực tế vào cuối khóa, sinh viên có thể bắt đầu từ những hoạt động quan sát, tìm hiểu môi trường giáo dục, sau đó từng bước đảm nhận các nhiệm vụ nghề nghiệp với mức độ phức tạp tăng dần.

Cùng quan điểm, cô Huỳnh Thị Thu Nguyệt, Phó Hiệu trưởng Trường Tiểu học Phan Đăng Lưu phân hiệu Lê Đình Chinh (phường Hòa Cường) cho rằng, sinh viên nên được kiến tập tại các cơ sở giáo dục từ năm thứ hai đại học. Việc tiếp xúc sớm với học sinh, giáo viên và phụ huynh giúp sinh viên hiểu rõ hơn môi trường làm việc tương lai.

Cô Nguyệt cho hay, hằng năm trường tiếp nhận gần 50 sinh viên sư phạm, chia thành hai đợt kiến tập và thực tập. Trong đợt thực tập thường diễn ra từ giữa tháng 1 đến hết tháng 3, sinh viên tham gia công tác chủ nhiệm, giảng dạy các môn học, tổ chức hoạt động giáo dục và các công việc chuyên môn, đoàn thể của nhà trường.

Cần tăng thời lượng kiến tập ở năm thứ hai và thứ ba, tạo điều kiện để sinh viên có quá trình tiếp xúc với trường phổ thông liên tục hơn trước khi bước vào đợt thực tập cuối khóa.

Liên kết đào tạo, làm chủ công nghệ

Để tổ chức thực hành xuyên suốt khóa học, sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo giáo viên, trường phổ thông và cơ quan quản lý giáo dục cần được xác lập bằng cơ chế rõ ràng.

Theo thầy Lê Mạnh Tấn, cơ quan quản lý giáo dục cần dự báo nhu cầu giáo viên theo từng môn học trong khoảng 5-10 năm, làm cơ sở đặt hàng đào tạo sát với nhu cầu thực tế. Về phía trường phổ thông, việc tiếp nhận sinh viên sư phạm cần được xem là một phần trong nhiệm vụ chuyên môn, đồng thời là cơ hội phát hiện và bồi dưỡng nguồn giáo viên cho đơn vị.

Khi các bên cùng tham gia xây dựng lộ trình thực hành và thống nhất tiêu chí đánh giá, sinh viên sẽ được rèn luyện trong môi trường gần với công việc thực tế hơn. Theo thầy Tấn, khâu cần ưu tiên là thiết lập quy trình đồng đào tạo và đồng đánh giá giữa trường đại học với trường phổ thông trong suốt khóa học.

Bên cạnh kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sử dụng công nghệ số và AI đang trở thành yêu cầu cần được tích hợp vào chương trình đào tạo. Theo ThS. Lê Vũ, Giám đốc Trung tâm Tin học, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật (Đại học Đà Nẵng), việc ứng dụng công nghệ và AI trong trường phổ thông có chuyển biến tích cực nhưng chưa đồng đều giữa các cơ sở giáo dục và đội ngũ giáo viên.

Các công cụ như ChatGPT, Gemini, Claude có thể hỗ trợ xây dựng kế hoạch bài dạy, thiết kế câu hỏi và bài tập; Canva giúp tạo học liệu trực quan; các nền tảng kiểm tra trực tuyến hỗ trợ thu thập, phân tích kết quả học tập... Những công cụ này có thể giúp giáo viên tiết kiệm thời gian, đa dạng hóa hoạt động dạy học và hỗ trợ học sinh theo năng lực.

Theo ThS. Lê Vũ, biết sử dụng công cụ không đồng nghĩa với khả năng ứng dụng công nghệ hiệu quả trong sư phạm. Sinh viên cần biết lựa chọn công cụ phù hợp với mục tiêu bài học, kiểm chứng thông tin do AI tạo ra, điều chỉnh học liệu theo đặc điểm người học và tránh phụ thuộc vào nội dung có sẵn...

Sinh viên sư phạm cần được thực hành thiết kế học liệu số, xây dựng bài tập phân hóa, tổ chức hoạt động tương tác và khai thác dữ liệu phục vụ kiểm tra, đánh giá. Giáo viên vẫn phải chịu trách nhiệm về nội dung giảng dạy, quyết định chuyên môn và sự an toàn của học sinh.

Theo PGS-TS. Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng), sinh viên hiện nay có lợi thế về khả năng tiếp cận ngoại ngữ, công nghệ số và AI. Tuy nhiên, tư duy phản biện, giải quyết vấn đề, tranh luận, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo vẫn là những năng lực cần tiếp tục bồi dưỡng. Đây là những yếu tố giúp giáo viên tương lai không rập khuôn theo tài liệu có sẵn mà biết lựa chọn cách dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Với AI, mục tiêu đào tạo không dừng ở việc giúp sinh viên biết sử dụng công cụ. Quan trọng hơn là hình thành khả năng sử dụng có trách nhiệm, biết kiểm chứng thông tin và đánh giá tính phù hợp của sản phẩm công nghệ với mục tiêu giáo dục. AI có thể hỗ trợ thiết kế bài học, tiếp cận tri thức và cá nhân hóa việc học, nhưng không thể thay thế phán đoán sư phạm, trách nhiệm nghề nghiệp hay sự thấu hiểu học sinh của người thầy.

Vì vậy, đào tạo giáo viên phải kết hợp đồng bộ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, công nghệ, giao tiếp, hợp tác, nghiên cứu và xử lý tình huống. Những năng lực này cần được hình thành qua quá trình thực hành, gắn kết với trường phổ thông và môi trường nghề nghiệp thực tế.

Đưa giảng đường gần hơn với lớp học

Tăng cường trải nghiệm nghề nghiệp từ cơ hội thực tập và phối hợp chặt chẽ với các trường phổ thông là hướng đi cần thiết để sinh viên từng bước hoàn thiện năng lực nghề nghiệp.

Thực hành nghề nghiệp từ sớm

Với sinh viên sư phạm, kiến thức chuyên môn và phương pháp giảng dạy là nền tảng, nhưng để trở thành giáo viên, người học phải biết vận dụng kiến thức vào từng tình huống phát sinh trong quá trình dạy học. Dương Khánh Huyền, sinh viên lớp 23ST2, ngành Sư phạm Toán, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) cho biết, quá trình học tập và rèn luyện tại trường, Huyền được trang bị tương đối đầy đủ kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và các kỹ năng cần thiết để từng bước đảm nhận vai trò của một giáo viên.

Sinh viên Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) trong đợt kiến tập tại Trường Tiểu học Phan Đăng Lưu, phân hiệu Lê Đình Chinh. Ảnh: NHẬT HẠ
Sinh viên Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) trong đợt kiến tập tại Trường Tiểu học Phan Đăng Lưu, phân hiệu Lê Đình Chinh. Ảnh: NHẬT HẠ

Thông qua những học phần như Giao tiếp sư phạm, Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục, Thực hành dạy học môn Toán..., Huyền có cơ hội tiếp cận với những phương pháp, cách thức tổ chức, xây dựng và triển khai một bài học phù hợp với đối tượng học sinh. Tuy nhiên, để trở thành giáo viên thực sự, mỗi sinh viên sư phạm cần chủ động thích nghi, không chỉ vững vàng về kiến thức chuyên môn mà còn phải liên tục cập nhật công nghệ, đổi mới phương pháp dạy học và phát triển các năng lực cần thiết để đáp ứng nhu cầu của học sinh trong thời đại mới.

PGS-TS. Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm chia sẻ, đào tạo giáo viên luôn gắn với nhu cầu thực tế của ngành giáo dục. Nhà trường hiện có mạng lưới 81 cơ sở giáo dục đối tác, từ mầm non đến cao đẳng, phục vụ hoạt động kiến tập, trải nghiệm và thực tập sư phạm. Mạng lưới này tạo điều kiện để sinh viên tìm hiểu công việc của giáo viên, làm quen với học sinh và từng bước tham gia tổ chức dạy học.

Tổng thời lượng kiến tập và thực tập của sinh viên khoảng 13 tuần tại cơ sở giáo dục.

“Chúng tôi không chờ đến năm cuối mới đưa sinh viên đến trường học. Sinh viên được tiếp cận nghề nghiệp theo lộ trình sớm - thường xuyên - tăng dần, từ quan sát, trải nghiệm đến kiến tập, thực hành và thực tập sư phạm”
PGS-TS. VÕ VĂN MINHHiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Các cơ sở giáo dục không chỉ là nơi tiếp nhận sinh viên thực tập mà cũng là đối tác đào tạo. Nhà trường, khoa và giảng viên phối hợp với giáo viên tại cơ sở để hướng dẫn, theo dõi và đánh giá sinh viên trong cả quá trình, từ tổ chức dạy học, giáo dục, giao tiếp, xử lý tình huống đến tác phong nghề nghiệp.

Lộ trình tiếp cận nghề nghiệp
Sinh viên Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng) đến với trường học từng bước, từ quan sát đến thực tập sư phạm
SớmThường xuyênTăng dần
Quan sát
Trải nghiệm
Kiến tập
Thực hành
Thực tập sư phạm
81
cơ sở giáo dục đối tác, từ mầm non đến cao đẳng, phục vụ kiến tập, trải nghiệm và thực tập sư phạm
khoảng13tuần
tổng thời lượng kiến tập và thực tập của sinh viên tại cơ sở giáo dục
Theo PGS-TS. Võ Văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng)

Thời gian đến, Trường Đại học Sư phạm hướng tới chuyển từ mô hình “đưa sinh viên đến trường phổ thông để thực tập” sang “trường phổ thông cùng tham gia đào tạo”. Trường Đại học Sư phạm đang nghiên cứu mô hình gần với đào tạo y khoa, nghĩa là sinh viên được tham gia thường xuyên hơn môi trường nghề nghiệp tại các trường học dưới sự hướng dẫn của giáo viên và giảng viên, từng bước đảm nhiệm vai trò trợ giảng, hỗ trợ hoạt động giáo dục và tham gia nghiên cứu khoa học giáo dục.

Giáo viên các trường tiểu học tham gia tập huấn STEM
Giáo viên các trường tiểu học tham gia tập huấn STEM. Ảnh: NTCC

Tăng trải nghiệm, vững nghiệp vụ

Để hoạt động thực hành mang lại hiệu quả, cần có sự phối hợp giữa giảng viên đại học và giáo viên trực tiếp hướng dẫn tại trường phổ thông. Hai bên cần thống nhất mục tiêu thực hành, nội dung sinh viên phải hoàn thành và tiêu chí đánh giá năng lực sau mỗi giai đoạn.

Theo TS. Võ Thị Bảy, Trưởng khoa Giáo dục Tiểu học - Mầm non, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng), một trong những thách thức lớn của đào tạo giáo viên hiện nay là giúp sinh viên chuyển hóa kiến thức chuyên môn thành năng lực tổ chức dạy học thực tế. Sinh viên có thể nắm vững nội dung bài học nhưng khi thiết kế hoạt động để học sinh tiếp thu, sinh viên vẫn gặp khó khăn trong việc xác định trọng tâm, xây dựng câu hỏi gợi mở và tổ chức cho học sinh chủ động khám phá kiến thức.

TS. Võ Thị Bảy cho rằng, quá trình đào tạo cần tạo thêm cơ hội để sinh viên phân tích tình huống, lựa chọn phương án tổ chức dạy học, giải thích quyết định sư phạm và điều chỉnh sau khi nhận được phản hồi. Đây cũng là lý do thực hành sư phạm được nhìn nhận như quá trình phát triển năng lực có lộ trình, thay vì chỉ chú trọng số tiết thực hành hay thời gian thực tập.

Sinh viên cần được rèn luyện từng bước, từ quan sát, phân tích hoạt động giáo dục, thực hành các kỹ năng đến tổ chức dạy học và đảm nhận những nhiệm vụ nghề nghiệp phức tạp hơn.

Sau mỗi lần thực hành, sinh viên cần phân tích nguyên nhân thành công hoặc hạn chế của tiết dạy, nhận diện vấn đề và đề xuất hướng cải thiện. Do đó, theo TS. Võ Thị Bảy, sinh viên cần được tiếp cận môi trường phổ thông sớm hơn, thường xuyên hơn và tham gia các nhiệm vụ có mức độ phức tạp tăng dần.

Sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo giáo viên và trường phổ thông cần hướng đến việc tạo ra môi trường thực hành liên tục, trong đó sinh viên được trải nghiệm, nhận phản hồi và từng bước hoàn thiện năng lực nghề nghiệp.

Một giờ học của học sinh THCS Lê Lợi (phường Ngũ Hành Sơn)
Một giờ học của học sinh THCS Lê Lợi (phường Ngũ Hành Sơn). Ảnh: NTCC

Thầy Nguyễn Thanh Bão, giáo viên môn Toán, Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Ngọc Linh (xã Trà Linh) bày tỏ, giáo viên mới ra trường thường gặp lúng túng nhất ở khâu quản lý lớp học và xử lý tình huống sư phạm. Khác với việc xây dựng kế hoạch bài dạy hay thực hiện các yêu cầu chuyên môn có thể nghiên cứu qua tài liệu, tình huống trong lớp học rất đa dạng, đòi hỏi giáo viên phải quan sát, nắm bắt tâm lý và lựa chọn cách ứng xử phù hợp với từng học sinh.

Thầy Bão cho rằng giáo viên trẻ cần có thêm cơ hội dự giờ, thực hành, trao đổi tình huống và nhận sự hướng dẫn từ đồng nghiệp giàu kinh nghiệm; chủ động lắng nghe học sinh, nhìn lại cách xử lý sau mỗi giờ dạy để tích lũy thêm kinh nghiệm.

Nội dung: THU HÀ - SONG KHUÊ - NHẬT HẠ

Trình bày: MINH TẠO

THU HÀ - SONG KHUÊ - NHẬT HẠ