Để tri thức tiếp tục được trao truyền
ĐNCT - Đằng sau mỗi ngọn cỏ, nhành cây là cả một kho tàng trí tuệ dân gian được chắt lọc qua hàng ngàn năm giữa đại ngàn Trường Sơn. Nhưng làm sao để tri thức ấy không dừng lại ở những trang hồ sơ lưu trữ, mà tiếp tục xanh tươi trong đời sống hôm nay?

Hành trình tìm lời giải đưa chúng tôi trở về với những mái nhà gươl Pơrning thôn Lăng, xã Tây Giang phía Tây thành phố, nơi các thế hệ người Cơ Tu đang ngày đêm giữ lửa cho mạch nguồn tri thức bản địa.
Câu chuyện của Mẹ Rừng
Trời Tây Giang chiều thu phủ lớp sương mỏng manh như dải lụa ôm lấy những ngọn núi xa xanh thẳm. Trong không gian trầm mặc của mái gươl truyền thống, bếp lửa giữa sàn gỗ ngân nga tiếng nổ lách tách. Ngồi đối diện tôi là già làng Bh'riu Pố người được ví như “báu vật sống” của đồng bào Cơ Tu, một cuốn từ điển sống về văn hóa và thực vật bản địa.
Rót chén trà thảo mộc chè dây thơm nồng ngạt ngào mùi lá rừng, già Pố cười, nếp nhăn nơi khóe mắt xô lại ấm áp. Ở tuổi “thất thập”, đôi mắt già vẫn sáng quắc mỗi khi nhắc về cây cỏ quê hương. “Người Cơ Tu sinh ra từ rừng, sống nhờ rừng và khi nhắm mắt cũng về với vòng tay Mẹ Rừng,” già Pố chậm rãi mở đầu câu chuyện. “Mỗi cái cây, ngọn cỏ quanh nhà không đơn thuần là vật vô giác. Chúng là thuốc chữa bệnh, là màu nhuộm sắc chàm, tấm chiếu, gối, là vũ khí giữ làng, và là linh hồn trong đời sống tâm linh của người Cơ Tu”.
Già Pố dắt tôi ra khoảnh vườn nhỏ nơi mái Zơng của ông bên dòng suối Nal, nơi già sưu tầm và nhân giống hàng chục loài cây thuốc quý, trong đó có cây Pơ-lung-ka-út (cây thường sơn), là một vị thuốc lâu đời trong y học cổ truyền của người Cơ Tu. Chỉ tay vào một nhành lá thẫm màu tím, già bảo: “Đầy là cây thuốc trị sốt rét, hồi kháng chiến gian khổ nhờ cây này mà cứu sống bộ đội, dân làng khỏi dịch sốt rét. Rồi già chỉ xuống cây dương xỉ rừng, già bảo đây là cây cầm máu sơ cứu ban đầu. Ngày xưa làm gì có bệnh viện, dân làng ốm đau đều dựa vào lá rừng. Nhìn cái lá, bấm cái rễ là biết tuổi cây, biết cách cứu người”.
Không chỉ chữa bệnh, thực vật còn thổi hồn vào sắc màu văn hóa Cơ Tu. Già Pố bật bật ngón tay lên lấy lá cây cỏ thổi bắt chứa thành 100 thứ tiếng chim thú, rộn rã cả góc rừng, rồi già bảo tấm dệt thổ cẩm Cơ Tu ngày xưa cũng được nhuộm màu từ củ, lá cây rừng: “Con thấy màu xanh đen sâu thẳm này không? Đó là mủ cây chàm rừng, kết hợp với tro bếp và vôi đá. Còn màu đỏ trầm thì lấy từ rễ cây a-păng. Bàn tay người phụ nữ Cơ Tu không dùng hóa chất, tất cả màu sắc nhuộm nên váy áo, tấm thổ cẩm, chiếu, gối đan bằng lá dứa rừng đều từ nhựa sống của núi rừng”.
Đặc biệt, trong trí nhớ của già Pố, rừng còn là chiếc lá chắn bảo vệ buôn làng. Có những loại cây tiết ra nhựa chứa chất độc cực mạnh được người xưa xức vào mũi tên để săn thú dữ hay phá hoại mùa màng. Người Cơ Tu còn dùng mủ độc đó để đánh đuổi quân thù xâm lược qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, góp phần cùng cả nước giành độc lập, tự do và hòa bình như ngày hôm nay.
“Từ mái nhà gươl cong vút như ngực chim Triing, cây nêu sừng sững giữa sân lễ, điệu múa Tâng tung da dá uyển chuyển... tất cả đều bắt nguồn từ dáng cây, cành lá. Rừng cho người Cơ Tu sự sống, người Cơ Tu trả lại cho rừng lòng biết ơn”, già Pố trầm ngâm.
Thổi hồn cây cỏ vào nét chạm khắc của tuổi trẻ
Nếu già Bh'riu Pố đại diện cho kho tàng tri thức ngàn xưa, thì nghệ nhân trẻ Alăng Reo lại là gạch nối đưa vốn quý ấy vào nhịp sống hiện đại. Ngồi bên thềm gươl, Reo cặm cụi với từng nét đục, chiếc rìu nhỏ trên tay chuyển động nhịp nhàng trên tấm Gương - hai tấm điêu khắc tựa vũ điệu Tâng tung da dá, có khắc hai đầu con gà trống và mái gắn vào cột nêu chính chuẩn bị cho lễ hội của làng. Bụi gỗ thơm nức không gian.
Hỏi về những đường nét hoa văn đang dần hiện lên dưới bàn tay tài hoa, Reo hào hứng chia sẻ: “Người ta thường chú ý đến hình ảnh con gà, chim Triing, múa Tâng tung da dá hay cảnh đi săn trên các bức điêu khắc gươl. Nhưng nếu quan sát kỹ, anh sẽ thấy hoa lá, cây cỏ mới là nền tảng xâu chuỗi tất cả. Nghệ thuật tạo hình Cơ Tu không thể tách rời thiên nhiên...”.
“Khi chạm khắc một bông hoa lơ-lang hay một chiếc lá rừng, em không chỉ chép lại hình dáng của nó”, Reo tâm sự. “Em đang kể lại ký ức truyền thống tốt đẹp, nhân văn của tộc người Cơ Tu mình, yêu núi, yêu rừng, sống đoàn kết như lá rừng Trường Sơn. Mỗi loài hoa mang một thông điệp: hoa đỗ quyên nhắc về lòng kiên cường, hoa sảng nhắc về sự ấm no. Thế hệ trẻ chúng em nếu không hiểu ý nghĩa của cây cỏ, thì nét đục làm ra chỉ là gỗ vô hồn”.
Mạch ngầm tri thức
Cuộc trò chuyện với già Bh'riu Pố và nghệ nhân trẻ Alăng Reo giúp tôi nhận ra một sự thật rõ ràng: Tri thức thực vật của đồng bào Cơ Tu vô cùng phong phú, nhưng đang đối mặt với nguy cơ mai một khi các vị già làng ngày một thưa vắng.
Bảo tàng hay các triển lãm chuyên đề là nơi lưu giữ và tôn vinh vô giá. Nhưng để tri thức ấy thực sự "sống", nó không thể chỉ nằm yên sau tủ kính hay trong những tập hồ sơ lưu trữ. Tri thức phải được trao truyền và thực hành ngay trong lòng cộng đồng.
Muốn vậy, trước hết cần xây dựng bộ tư liệu chuẩn hóa về hệ thực vật có ích: từ ghi chép tên gọi bằng tiếng Cơ Tu, tên khoa học, công dụng chữa bệnh, kỹ thuật lấy mủ tạo màu, cho đến tri thức dân gian gắn liền với từng loài cây. Việc số hóa hình ảnh, video thao tác nhuộm vải, chế tác thuốc, đan lát từ mây tre nông cụ thô sơ mà tinh tế trong từng hoa văn, cách đan, cách bện hay đục đẽo hoa văn sẽ giúp kho tàng này tiếp cận nhanh chóng với thế hệ trẻ qua các nền tảng số.
Bên cạnh đó, môi trường trao truyền hiệu quả nhất chính là các làng nghề thủ công truyền thống. Khi nghề dệt thổ cẩm, nghề điêu khắc gỗ, nghề đan mây tre, chiếu, gối từ lá dứa rừng,... tiếp tục phát triển và có đầu ra kinh tế, thì nhu cầu sử dụng nguyên liệu tự nhiên (như cây chàm, cây mây, tre, giang, lá dứa rừng, gỗ... được trồng, bảo vệ và chăm sóc tốt hơn) sẽ tự khắc hồi sinh. Đó chính là động lực để cộng đồng chủ động bảo tồn và trồng lại các loài thảo dược bản địa, cây thuốc quý.
Cuối cùng, sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà nghiên cứu, nhà khoa học với nghệ nhân bản địa đóng vai trò then chốt. Sự kết hợp giữa phương pháp phân loại khoa học hiện đại và kinh nghiệm thực tiễn ngàn đời của người dân bản địa Cơ Tu nơi đây sẽ giúp nhận diện chính xác giá trị dược tính, sinh học, đồng thời quy hoạch các vùng bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm ngay tại địa phương.
Trời đêm buông xuống trên đại ngàn Tây Giang. Tiếng hát lý răn dạy cháu con, dân làng giữ núi, giữ rừng, giữ sác chàm, điệu múa... vang lên từ một góc nhà sàn, hòa cùng tiếng thì thầm trao truyền bài thuốc gia truyền của vị già làng, của a-va cho đứa cháu nhỏ. Tri thức về thực vật của người Cơ Tu, như dòng sông Lăng, Avương, vẫn mải miết chảy qua bao thế hệ, xanh tươi, bền bỉ và vĩnh hằng như chính Mẹ Rừng vĩ đại.
PLÊNH PƠLOONG