Lửa Thiếu Lâm ở vùng sơn cước
ĐNCT - Được tin lão võ sư Nguyễn Tấn Phòng thọ phong hàm Đại võ sư, tôi tìm đến chúc mừng. Ngôi nhà ngói khang trang ngày nào, 50 năm qua giờ đã đổi sắc, tịch mịch, cổ kính, rêu phong. Có lẽ hình ảnh duy nhất không thay đổi là đôi mắt vị đại tôn sư, vẫn tinh anh lão luyện.
.jpg)
“Xin chúc mừng thầy nhân thọ phong Đại võ sư!”. Nghe tôi cung kính, lão võ sư cười khà khà gật đầu rồi châm nước pha trà. Chén trà xanh óng, bốc khói phảng phất mùi vị quê kiểng.
Đẩy một chén về phía tôi, lão sư trầm giọng: “Nghề văn, nghiệp võ, nhà văn biết rồi đó, cốt giữ cho được thanh danh. Vinh danh là quý, mà đừng để thành cái hư danh”.
Gian nan những ngày giữ nghiệp
Ông Nguyễn Tấn Phòng theo thọ giáo tôn sư Triệu Nhất Lang từ đầu năm 1972. Thời buổi chiến tranh loạn lạc, cướp giật như rươi, đám dân tị nạn là miếng mồi ngon mà bọn bất lương thường dòm ngó. Song thân vốn thuộc hàng phú nông chăm chỉ nên cũng có đôi chút của cải. Ông theo đòi đường quyền ngọn cước để phòng vệ.
Mà nghiệp chọn người, thấy ông hiền lành mà sắc sảo, ý chí, ông thầy thương lắm nên cũng dốc lòng chỉ giáo. Từ những đường quyền Hồng Gia, Bát Bộ, Bát Tiên, Tứ Môn đến trường côn, song khúc, đơn kiếm. Sau bốn năm khổ luyện, ông trở thành trưởng tràng của võ phái Thiếu Lâm Tự, được sư phụ ban võ hiệu Triệu Đại Phúc.
Trầm ngâm giây lát như để hồi tưởng lại thời trai trẻ xa xăm, lão võ sư tiếp tục mạch chuyện. Ân sư cưỡi hạc quy tiên năm 1982. Bấy giờ ông đã thụ giáo sư phụ ngót 10 năm. Là truyền nhân y bát, ông thấy mình có trách nhiệm duy trì môn phái. Vậy là ông thầm lặng chiêu mộ môn sinh. Lúc ấy ông vừa 24 tuổi.
Những năm tháng sau ngày thống nhất đất nước, an ninh địa phương rất nghiêm, các lò võ bấy giờ chưa được cấp phép, chỉ là truyền thụ dăm ba môn sinh để duy trì, chưa nghĩ đến hoằng dương môn phái. Có lẽ nhận thấy tinh thần võ đạo là cần thiết nên địa phương cũng nương tình mà không làm khó dễ mấy. Thế là khoảng sân mấy chục mét vuông cứ tối tối lại có những môn sinh tụ tập rèn luyện.
Cũng có lẽ Tổ nghiệp nương tình nên trong số các môn sinh ông thu nhận được bốn đệ tử ưng ý là Tấn Nhân, Vũ Quang, Tấn Thiện, Tấn Liễu. Môn phái Thiếu Lâm Bắc phái để xếp hạng cao đồ thì các đệ tử bắt buộc phải luyện qua trận đồ Tứ Môn. Nên nếu không đủ bốn môn sinh có căn cơ trấn giữ bốn cửa nhất tề công thủ thì sư phụ không phân thế ngọn ngành được. Qua được bài quyền tứ môn mới đủ bản lĩnh để an nhiên vào ra giữa tứ bề thọ địch mà thủ thắng. Cái đắc ý của ông khi thu nhận được bốn đệ tử là thế.

Khi nghe tôi tò mò về các khoản thù lao, lão võ sư cười xòa: “Làm gì có. Thì ý tui cũng chỉ là truyền nghề để duy trì môn phái. Mà thời buổi ấy cả thầy lẫn trò đều nghèo đói đúng nghĩa đen cả. Thấy các trò ham học hỏi là tui vui rồi. Chỉ khi mùa vụ thấy nhà thầy thưa người nên các môn sinh rủ nhau góp sức lo việc đồng áng. Rứa thôi”.
Rồi xã hội ngày một cởi mở hơn, khoảng cuối những năm 1980 bắt đầu có các cuộc giao lưu võ thuật. Tiếng lành đồn xa, võ đường các nơi đưa môn sinh đến cọ xát cùng học hỏi. Rồi các võ đường tận Quảng Ngãi, Tây Sơn - Bình Định cũng đưa đoàn đến thi đấu giao lưu. Trình độ và tinh thần võ thuật cũng thuận đà thăng tiến. Ông chính thức lấy tên Võ đường Thiếu Lâm Bắc phái Việt An cũng từ dạo ấy.
Một điểm mốc đáng ghi nhớ của võ đường Thiếu Lâm Bắc phái Việt An là vào năm 1985, lão võ sư Trịnh Đông Sơn từ Quảng Ngãi về thăm chốn xưa và thăm võ đường. Lão võ sư Trịnh Đông Sơn là huynh đệ đồng môn với sư phụ ông, ngày còn học võ, Trịnh võ sư thường lên xuống cùng Triệu sư phụ song đấu luyện, tình thân nên bà con địa phương hay gọi bằng tục danh Hai Quờn.
Ông Trịnh Đông Sơn thoát ly theo cách mạng từ rất sớm, và phục vụ trong binh chủng đặc công, một thời nổi danh “Hùm xám” với những trận đột nhập vào nắm tình hình địch đến quỷ khốc thần sầu. Nghĩa cố cựu với xóm làng, tình sư môn với chúng đệ, võ sư Trịnh tận dụng thời gian đem hết lịch duyệt của một đời bôn tẩu chỉnh tu lại các đòn thế, lại truyền thụ thêm đường quyền “Xà Vương xuất động”, một trong những tuyệt kỹ trấn sơn của bổn môn mà Trịnh lão sư tâm đắc. Sự trở về của võ sư Trịnh cũng góp phần củng cố thêm uy danh môn phái.
Đến năm 2012 Liên đoàn võ thuật cổ truyền tỉnh Quảng Nam được thành lập. Ngay đợt khảo sát đầu tiên, đã có những môn sinh của lò Thiếu Lâm Bắc phái Việt An được đặc cách phong Hồng đai nhất đẳng. Và rồi là những mùa gặt hái, các cao đồ thi đấu đã đem về những tấm huy chương quý giá.
Khi tôi hỏi về danh hiệu Đại võ sư do Liên đoàn võ cổ truyền Quảng Nam phong tặng, lão võ sư cười hóm hỉnh, chắc cười cái sự ngây ngô của nhà văn. Tấn phong danh hiệu Đại võ sư thuộc thẩm quyền của Liên đoàn võ thuật Việt Nam. Liên đoàn các tỉnh chỉ có vai trò lập hồ sơ và đề nghị phong tặng.
Với câu hỏi về các tiêu chí phong tặng, Đại võ sư giảng giải: Hẳn nhiên là phải sở hữu bằng võ sư. Rồi có thời gian cống hiến lâu năm trong ngành võ thuật. Tuổi đời phải trên 50. Phải có thành tích thực tế như có công lao rõ rệt trong việc duy trì và phát triển môn phái. Đào tạo thế hệ môn sinh kế cận. Có thành tích cao trong phong trào thi đấu thể dục thể thao. Có công trình nghiên cứu khả thi…
Vừa giảng giải, lão võ sư vừa đứng dậy, dáng thanh thoát vẫy tay ra hiệu: “Nói có sách, mách có chứng; nhà văn đi theo tôi”. Rồi ông dắt tôi qua gian phòng trưng bày các thành tích của võ đường.
Tôi thật thích thú với bát ngát hình ảnh huy chương vàng, bạc, đồng mà các môn sinh đã đạt được cùng với cờ lưu niệm của các giải đấu. Gia tài tích lũy của 15 năm trở lại đây, tính từ khi Liên đoàn võ thuật cổ truyền tỉnh Quảng Nam được thành lập. Song để có được 15 năm ấy là sự kiên trì giữ lửa của vị võ sư từ 30 năm trước. Và với ông, ngày vinh dự thọ phong danh hiệu Đại võ sư, vào tháng 6/2026, là một ngày đặc biệt thiêng liêng và trọng đại.
.jpg)
Nỗi niềm của bậc tôn sư
“Thưa thầy, chắc trong nghiệp võ cũng có nỗi buồn thầy nhỉ?”. Đôi mắt sáng của vị Đại võ sư chùng xuống, ông nói khẽ: “Có chứ. Một trong những nỗi niềm của tôi là phần lớn môn sinh xuất sắc lại không dấn thân với nghiệp võ đến tận cùng. Mà nghĩ cũng phải thôi, các trò còn áo cơm danh phận, còn bao thứ phải đua chen trong thời hiện tại. Nghiệp võ không phải là nghề làm ăn”.
Nhìn ông trầm ngâm và tránh nhắc tên bốn đại đệ tử ngày nào ông ưng ý, tôi lại nghĩ về ông của hơn 40 năm trước, một thầy giáo ngày đến lớp, đêm về huấn luyện môn sinh. Để vẹn sinh kế, có những đêm trăng ông cuốc đất, đập đất đến tận canh khuya.
Ông lại trở về với dòng tâm tình bằng tâm trạng phấn chấn, niềm hạnh phúc của ông là con trai trưởng rất có tư chất, hiện đã được phong chuẩn võ sư. Nghiệp nhà vậy là có người tiếp nối. Ngọn lửa Thiếu Lâm sẽ luôn được duy trì và phát huy, bùng cháy và tỏa sáng, góp phần làm giàu có cho tinh hoa võ học và giữ vững tinh thần võ đạo ở chốn sơn cước xa xôi này.
Rồi, mở tủ gỗ, đem ra một chai rượu thuốc, ông tươi cười: “Chuyện võ mình nói khá lâu rồi đó. Cảm ơn nhà văn đã đến cửa nhà võ chúc mừng, lão nghĩ cũng mời nhà văn đôi chung mới là phải đạo”.
Rót đầy hai ly con, trao tôi một ly, cụng và cạn. Men rượu nóng ấm làm nôn nao tỳ vị.
Tôi đùa: “Chắc rượu này cũng là độc chiêu bổn môn thầy nhỉ?”, “Hà hà, nhà văn hiểu biết nhiều quá đấy. Nhà văn có biết là khi sát hạch cấp bằng võ sư phải có môn võ y lý nữa không? Người luyện võ cần có thân thể tráng kiện. Luyện tập, thi đấu lại nhiều lúc sơ suất hay chưa đủ công lực mà không giữ được đòn, chuyện tổn thương là thường thấy. Các võ sư phải nắm vững những bài thuốc Đông y căn bản, và cả những bí truyền của bản môn chứ. Rượu nhà văn đang thưởng thức là Thiếu Lâm biệt tửu đấy”.
Thêm một ly, rồi một ly nữa, ông nhắc, thái quá bất cập, đã thuốc thì không được quá liều lượng.
Chén rượu tiễn cạn ly, tôi xin phép ra về, bước đi mà lòng ấm lạ. Gặp một Đại võ sư, nhưng cái tôi học được không phải là những chiêu thức “Tứ Môn” hay “Xà Vương xuất động”, mà là bài học về hai chữ “thanh danh” mà ông nhắc từ lúc mới nhấp chén trà đầu.
Nghề văn của tôi hay nghiệp võ của ông, chung quy lại cũng đều là hành trình giữ mình giữa những hư danh của cuộc đời. Giữa vùng sơn cước rêu phong này, có một vị Đại võ sư đã sống một đời như thế: trọn nghĩa với tôn sư, vẹn tình với môn sinh, và an nhiên viết tiếp chương sử võ học bình dị mà kiên cường. Có lẽ, đó chính là hiện hữu của võ đức bi - trí - dũng ở một đại tôn sư.
NGUYỄN TẤN ÁI