Để người trẻ vững tin sinh con
ĐNCT - Nhà ở, việc làm, chi phí nuôi dạy con và áp lực cân bằng giữa công việc với gia đình đang khiến nhiều người trẻ chần chừ trước quyết định kết hôn, sinh con.

Muốn họ vững tin lập gia đình, cần những chính sách thiết thực để giảm bớt nỗi lo và chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con trẻ.
Muốn có con nhưng phải… chờ
Nhiều năm thuê trọ ở Đà Nẵng, vợ chồng anh L. và chị Y. từng muốn sinh thêm con nhưng phải gác lại dự định vì lo nhà cửa, công việc và chi phí nuôi dạy con. Sau nhiều năm tích góp, hai người vay tiền mua căn hộ chung cư để ổn định chỗ ở. Thế nhưng, khi khoản nợ còn chưa trả hết, anh L. mất việc.
Chị Y. làm việc trong cơ quan nhà nước, có thu nhập ổn định nhưng một mình đồng lương của chị khó cáng đáng chi phí sinh hoạt, nuôi con và trả nợ ngân hàng. Kế hoạch sinh con thứ 2 tiếp tục bị trì hoãn. Chỉ khi trả xong nợ, hai vợ chồng mới tính chuyện có thêm con. Đến năm 2026, khi anh L. đã 40 tuổi và con đầu lòng lên 6, dự định ấy mới trở thành hiện thực.
Câu chuyện của vợ chồng anh L. cho thấy mong muốn có con chưa đủ để một gia đình đưa ra quyết định. Chỗ ở, thu nhập, tính ổn định của việc làm và những khoản chi kéo dài nhiều năm đều ảnh hưởng đến thời điểm sinh con.
Theo Th.S Bùi Thị Thuần, nghiên cứu viên Phòng Nghiên cứu xã hội, môi trường, đô thị và nông thôn - Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, áp lực lớn hiện nay không hẳn là người trẻ không muốn lập gia đình, mà là họ chưa đủ an tâm để bắt đầu. Có việc làm không đồng nghĩa với khả năng bảo đảm cuộc sống gia đình trong dài hạn, nhất là khi thu nhập phải chia cho tiền nhà, sinh hoạt và chăm sóc con.
Tổng tỷ suất sinh tại một số phường thuộc khu vực lõi đô thị Đà Nẵng chỉ khoảng 1,04 - 1,2 con/phụ nữ. Năm 2025, nhóm phụ nữ 30 - 34 tuổi có số trẻ sinh ra nhiều hơn nhóm 25 - 29 tuổi, phản ánh xu hướng sinh con muộn. Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên chỉ khoảng 5,12%.
Theo bà Thuần, ngoài chi phí nhà ở và nuôi con, người trẻ còn chịu áp lực phát triển sự nghiệp, trong khi mạng lưới hỗ trợ từ gia đình nhiều thế hệ ngày càng thu hẹp. Các cặp vợ chồng sống riêng phải tự lo từ chỗ ở đến chăm sóc con nhỏ. Đặc biệt, phụ nữ vẫn thường gánh phần lớn việc nhà, chăm con, càng lo ngại sự nghiệp bị gián đoạn sau sinh.
Ở góc độ tâm lý - giáo dục, TS Lê Thị Duyên, giảng viên Khoa Tâm lý - giáo dục - công tác xã hội, Trường Đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng), cho rằng áp lực nuôi dạy con không chỉ nằm ở tiền bạc mà còn ở thời gian, tâm lý và kỳ vọng ngày càng cao. Nhiều người lo mình không đủ tốt để làm cha mẹ, sợ không có thời gian cho con hoặc con không được đầu tư đầy đủ như bạn bè.
Khi việc nuôi dạy con trở thành cuộc đua về thành tích và điều kiện học tập, các gia đình dễ rơi vào tâm lý phải chuẩn bị thật đầy đủ mới dám sinh thêm con. Vì vậy, theo bà Duyên, thay vì chỉ yêu cầu cha mẹ cố gắng hơn, cần giúp họ có kiến thức nuôi dạy con phù hợp, thời gian chăm sóc con và những dịch vụ hỗ trợ đáng tin cậy.
Từ vận động đến hỗ trợ thực chất
Theo Th.S Phùng Thị Hương Hạnh, Chi cục trưởng Chi cục Dân số thành phố Đà Nẵng, tổng tỷ suất sinh toàn thành phố sau hợp nhất năm 2025 đạt khoảng 2,15 con/phụ nữ, cơ bản ở mức sinh thay thế. Tuy nhiên, mức sinh có sự khác biệt giữa các khu vực. Tại đô thị, xu hướng kết hôn muộn, sinh con muộn và sinh ít con ngày càng rõ.
Bà Hạnh cho rằng, không nên đơn giản quy nguyên nhân cho việc người trẻ ngại kết hôn hay không muốn sinh con. Nhiều người vẫn mong muốn có gia đình, có con nhưng lo khả năng bảo đảm cuộc sống ổn định và tương lai tốt đẹp cho con. Do đó, công tác dân số cần chuyển từ tuyên truyền, vận động đơn thuần sang tháo gỡ những khó khăn thực tế của các gia đình.
Một số chính sách hỗ trợ đã được quy định hoặc đang được đề xuất. Tuy nhiên, theo bà Hạnh, hỗ trợ tài chính chỉ là một phần của giải pháp. Muốn người trẻ yên tâm lập gia đình và sinh con, cần phối hợp đồng bộ giữa các ngành về việc làm, BHXH, nhà ở, giáo dục mầm non và chăm sóc sức khỏe; đồng thời tạo điều kiện để phụ nữ sau sinh trở lại làm việc, không phải đánh đổi cơ hội nghề nghiệp để chăm con.
Từ góc độ giáo dục, TS Lê Thị Duyên nhấn mạnh, cần phát triển hệ thống nhà trẻ, trường mầm non an toàn, có chi phí phù hợp và thời gian phục vụ đáp ứng nhu cầu của người lao động, nhất là tại các khu công nghiệp và đô thị đông dân.
Cha mẹ cũng cần được tiếp cận dịch vụ tư vấn tâm lý, hướng dẫn kỹ năng làm cha mẹ và có sự phối hợp tốt hơn giữa gia đình với nhà trường. “Muốn cha mẹ yên tâm nuôi con, chúng ta không thể chỉ trông chờ vào sự hy sinh của từng gia đình; cần có một hệ thống chăm sóc và hỗ trợ trẻ đủ tin cậy, công bằng và dễ tiếp cận”, bà Duyên nói.
Trong khi đó, Th.S Bùi Thị Thuần cho rằng, ở đô thị lõi, áp lực nhà ở và chi phí sinh hoạt đòi hỏi giải pháp phù hợp với khả năng chi trả của người trẻ. Ở vùng ven đô, nông thôn và miền núi, phát triển việc làm, trường học, cơ sở y tế và dịch vụ thiết yếu cũng góp phần giúp người trẻ ổn định cuộc sống, giảm áp lực dồn về trung tâm.
Bà Thuần lưu ý, những chính sách khuyến sinh sẽ khó đạt hiệu quả lâu dài nếu thiếu sự chia sẻ thực chất giữa vợ và chồng trong chăm sóc con, cũng như môi trường làm việc thuận lợi cho người lao động có con nhỏ. Người trẻ cần thấy rằng các hỗ trợ không chỉ xuất hiện trong một chiến dịch ngắn hạn mà là điều kiện ổn định để họ có thể tính toán tương lai gia đình.
Như Th.S Phùng Thị Hương Hạnh nhấn mạnh: cần chuyển từ tư duy “vận động người dân sinh đủ 2 con” sang “tạo điều kiện để người dân có thể sinh đủ 2 con khi họ mong muốn”. Khi những nỗi lo thiết thực được tháo gỡ, quyết định lập gia đình và sinh con mới có thể xuất phát từ sự tự tin, thay vì trở thành lựa chọn phải cân nhắc trong bất an.
TRƯỜNG SƠN