Nâng tầm Lễ hội Bà Thu Bồn, từ miền ký ức ven sông
ĐNCT - Thu Bồn là sông Cái, sông Mẹ của một vùng đất Quảng. Từ miền núi cao xuôi về đồng bằng, dòng sông bồi đắp phù sa, nuôi sống bao làng mạc, mở lối giao thương và góp phần hình thành một vùng văn hóa rộng lớn. Dọc dòng chảy ấy, những lớp trầm tích Chăm - Việt, làng nghề, phong tục và tín ngưỡng gặp gỡ, tiếp biến, làm nên diện mạo riêng của vùng đất...
Lễ hội Bà Thu Bồn là một điểm hội tụ trong không gian văn hóa ấy. Hằng năm, từ ngày 10 đến 12 tháng Hai âm lịch, người dân tìm về Lăng Bà ở Thu Bồn, vùng Duy Xuyên xưa, để dâng hương, dự lễ. Ở Nông Sơn, phía thượng nguồn, lễ hội cũng diễn ra tại Dinh Bà.
Hai không gian thờ tự cùng hướng về một hình tượng được tôn kính qua nhiều thế hệ, nối cư dân bên sông bằng niềm tin dân gian bền bỉ. Người dân gọi ngày hội là Lệ Bà, hai tiếng gần gũi, quen thuộc trong đời sống làng quê.
Sự tích về Bà có nhiều dị bản, là công chúa vua Mây, nữ tướng Chăm, hoặc nhân vật gắn với nhà Lê. Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt và tục thờ Bà Mẹ Xứ Sở của người Chăm cũng có những điểm gặp gỡ trong tín ngưỡng nữ thần của vùng đất.
Vì thế, nói đến Lệ Bà không thể chỉ nói về một lễ hội vài ngày. Phía sau ngày hội là vùng văn hóa Thu Bồn, nơi dòng sông góp phần định hình cách con người cư trú, làm ăn và ứng xử với thiên nhiên.
Trong những truyền thuyết ấy, dòng sông không chỉ là nơi sự tích diễn ra. Tín ngưỡng thờ Bà gắn với đời sống cư dân ven sông và ước vọng về cuộc sống yên lành.
Người làng vẫn nhắc “mưa Lệ Bà”, vẫn nhớ mùa hoa sầu đâu nở bên bờ bãi. Mưa, hoa và ngày hội đã thành một phần trong ký ức người dân nhớ về Lệ Bà.
Ở Lăng Bà, sắc phong triều Nguyễn là một chứng tích quý. Năm 2001, sắc phong được cung thỉnh từ Huế trở về làng.
Nhiều người góp công phục dựng lễ hội sau chiến tranh, tìm lại tư liệu Hán Nôm để khôi phục nghi thức cũ. Cụ Thái Văn Lịch, người từng có bốn mươi năm gìn giữ Lệ Bà, vẫn được người làng nhắc nhớ.
Lễ hội ở Duy Xuyên được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2020; lễ hội tại Nông Sơn được công nhận năm 2021. Sự ghi nhận ấy dành cho cả nỗ lực gìn giữ, trao truyền của cộng đồng.
Giờ đây, Đà Nẵng định hướng nâng tầm Lễ hội Bà Thu Bồn lên quy mô cấp thành phố vào năm 2027. Đây là cơ hội để di sản được biết đến rộng rãi hơn, đồng thời nhìn lại những giá trị đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Muốn lễ hội có chiều sâu, cần đề án tổ chức bài bản hơn nhằm xác định rõ phần lễ, phần hội và không gian văn hóa gắn với dòng Thu Bồn.
Tư liệu Hán Nôm, sắc phong, nghi thức rước sắc, rước nước và các dị bản truyền thuyết cần tiếp tục sưu tầm, kiểm chứng, hệ thống hóa, số hóa. Lời kể của các bậc cao niên cũng cần được ghi lại.
Việc phục dựng nghi lễ phải có sự tham gia của người am hiểu tập tục và người trực tiếp thực hành, tránh biến phần thiêng thành tiết mục biểu diễn.
Quan trọng hơn, cần đặt Lệ Bà trong hành trình khám phá vùng văn hóa Thu Bồn, kết nối di tích, làng nghề, làng cổ và những không gian sinh hoạt truyền thống dọc sông.
Đua thuyền, bài chòi, trò chơi dân gian, trưng bày sản vật, sản phẩm OCOP và ẩm thực địa phương có thể tạo sức hút, mở ra sinh kế cho cư dân.
Giao thông, vệ sinh môi trường, nơi đón khách và thông tin giới thiệu di sản cũng cần được chuẩn bị chu đáo. Nhưng người dân vẫn phải là chủ thể của ngày hội. Văn hóa cần được sống trong cộng đồng trước khi trở thành sản phẩm du lịch.
Nâng tầm Lệ Bà không phải làm cho ngày hội giống những lễ hội khác, càng không chỉ là mở rộng sân khấu hay tăng lượng khách.
Điều cần làm là giúp những giá trị riêng của vùng văn hóa Thu Bồn được nhận biết rõ hơn, bảo vệ tốt hơn và trao truyền cho lớp trẻ.
Thu Bồn cứ mải miết chảy về phía biển. Còn Lệ Bà vẫn ở lại với những người bên sông…
NGUYỄN ĐIỆN NAM