Tiếng lòng từ núi rừng Cơ Tu
ĐNCT - Chiều đại ngàn Tây Giang bủa giăng một lớp sương mỏng manh như chiếc áo thổ cẩm lung linh vắt qua những tán lim, mun cổ thụ đến đỉnh núi Jrăng, nơi ngọn nguồn sông Lăng. Trong cái tĩnh mịch, thiêng liêng của vùng đất biên giới, tiếng gõ dồn dập, ngân rung của chiếc trống ka-thu (trống cái, hay còn gọi trống mẹ) vang lên, hòa cùng nhịp ngân dài của goòng (cồng), chiing (chiêng), cơ-bhâr (thanh la)... vang qua vách núi, vọng xuống thung sâu điệp trùng xanh thẳm.

Âm thanh ấy không chỉ là nhịp điệu của một ngày hội, mà là nhịp đập trái tim của người Cơ Tu. Âm nhạc trống, chiêng, thanh la, điệu múa cổ xưa... tất cả theo ngược chiều kim đồng hồ như một thông điệp gởi, nhắc lớp lớp con cháu Cơ Tu luôn nhớ về cội nguồn, về núi ngàn xanh tươi.
Nguyên liệu làm nên thanh âm
Tại các xã Sông Kôn, Đông Giang, Avương, Tây Giang, Nam Giang hay Hùng Sơn..., nghệ thuật chế tác nhạc cụ và trình diễn mang những nét tương đồng và đặc sắc. Đó không chỉ là những nhạc cụ dùng trong trình diễn trên sân khấu mà là linh hồn sống của dân làng, của núi rừng, là triết lý ứng xử nhân văn sâu sắc giữa con người với thiên nhiên gắn với môi trường sống của tộc người Cơ Tu nơi đây.
Đối với người Cơ Tu. muốn chế tác một cái trống ka-thu vang vọng hay đàn ânjưl (đàn hai dây), cây sáo tơrhoong (cây sáo thông tình)... người nghệ nhân phải đi qua một hành trình tôn kính thần rừng, từ việc chọn ngày đi lấy nguyên vật liệu theo lịch học Cơ Tu.
Già Pơloong Nấp, thôn Agrồng (xã Tây Giang) cho biết: “Người Cơ Tu từ xa xưa muốn vào rừng lấy cây làm nhà hay đi làm nương rẫy, dựng nhà cửa, cưới hỏi, hay trồng trọt chăn nuôi phải nhìn vào lịch học Cơ Tu tức là nhìn vào mặt trăng (người Cơ Tu gọi là mắt hidum), để xem ngày lành tháng tốt. Việc lấy nguyên vật liệu nhạc cụ Cơ Tu cũng vậy, chọn đúng ngày để tránh mối mọt, thường lấy sau ngày 16 âm lịch”.
Nghệ thuật chọn vật liệu chế tác nhạc cụ của người Cơ Tu chính là tấm gương phản chiếu về triết lý "giữ rừng" vượt thời gian. Họ tôn trọng vòng đời của cây cối. Họ chỉ chọn những cây gỗ tạp, nhẹ, dễ đục, cây dễ tái sinh, khi lấy cây về phải làm lễ cúng xin phép Yàng, thần rừng trước khi hạ, cây chọn phải có độ vang và chịu lực tốt.
Mặt trống ka-thu (trống cái) được bịt bằng da mang, da nai hoặc da bò... theo đúng luật tục truyền thống. Độ căng của lớp da được kéo bằng dây mây rừng kết hợp với độ rỗng của thân gỗ tạo nên âm thanh trầm hùng nhưng vang xa hàng dặm, mang tín hiệu của núi rừng, của tộc người Cơ Tu.
Chính nhờ tư duy ứng xử thuận tự nhiên ấy, những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn nơi các xã biên giới, nhất là tại các xã Avương, Tây Giang, Hùng Sơn, nơi phía tây thành phố vẫn đứng vững, xanh tươi qua bao thăng trầm.
Rừng cho họ âm thanh, điệu múa, câu hát, khát vọng, niềm tin và người Cơ Tu trả lại cho rừng sự thành kính thông qua từng giai điệu, điệu múa Tâng tung da dá và lòng biết ơn sâu sắc đối với rừng, thông qua nghi lễ cúng tạ ơn rừng hằng năm mỗi độ xuân về.
Đôi bàn tay của những nghệ nhân
Hành trình từ một khối gỗ, thanh tre, nứa, cây giang hay cây mây rừng... vô giác trở thành chiếc trống ka-thu, trở thành nhạc cụ mang "nhịp đập tâm linh của cả cộng đồng, nối kết cộng đồng sống đoàn kết hơn, yêu thương nhau hơn" là cả một nghệ thuật đòi hỏi sự tài hoa, kiên nhẫn, cần mẫn, tỉ mỉ, tinh tế cộng với tri thức dân gian tích lũy qua mấy ngàn năm, qua nhiều thế hệ.
Nổi bật trong không gian văn hóa ấy là hai gương mặt nghệ nhân gạo cội già Cơlâu Blao và Hốih A-pla (A-plắh), 2 trong 4 nghệ nhân hiếm hoi của huyện Tây Giang cũ, nay là ba xã Tây Giang, Avương, Hùng Sơn, đã được cộng nhận là nghệ nhân ưu tú.
Ở xã Hùng Sơn, già Cơlâu Blao, làng Voòng (thôn Tr’hy) được xem như một "báu vật sống". Ông không chỉ là người nắm giữ vô số câu chuyện cổ, những bài dân ca, tri thức bản địa, chạm khắc gỗ giỏi, hay những kỹ nghệ làm trang phục cổ xưa từ cây rừng, già Blao còn là một bậc thầy về chế tác nhạc cụ như ka-thu, đàn ânjưl và cả đàn bầu mang phong cách riêng, thân đàn bầu nguyên khối từ một loại gỗ nhẹ, chạm khắc lên đó là hình ảnh con Tê Tê - loài động vật nằm trong sách đỏ, như muốn gửi gắm về tình yêu động vật quý hiếm.
Từ đó, giáo dục thế hệ trẻ qua nhạc cụ truyền thống không chỉ bằng âm thanh mà bằng nghệ thuật chạm khắc gỗ độc đáo, bắt mắt.
Với già Blao, để đục đẽo, chế tác được phần thân trống ka-thu, chagơr đòi hỏi người làm phải biết chọn cây gỗ nhẹ, dễ cắt, đục, có âm vang xa như một quá trình đối thoại với gỗ, với rừng già bằng cả tâm huyết yêu núi, yêu rừng, yêu quê hương, đất nước.
Bằng đôi bàn tay chai sần, tài hoa qua hàng chục năm rèn dũa, ông gọt đẽo tỉ mỉ từng chi tiết thân của trống ka-thu, đàn ânjưl... để khi đánh lên, âm thanh phát ra không bị đục, vừa có độ dồn dập của thác đổ, vừa có độ ngân xa của gió hú vượt qua đỉnh núi Arung cao vời.
Ông thường bảo: "Cái trống ka-thu đánh lên mà không làm cái ngực người già rung lên, cái chân đứa trẻ muốn nhảy múa thì đó mới chỉ là cái thùng gỗ, chưa phải là cái trống của người Cơ Tu".
Nếu Cơlâu Blao nổi tiếng với kỹ nghệ đẽo gọt và am hiểu ngọn nguồn nguyên liệu, thì nghệ nhân Hốih A-pla lại dành trọn cuộc đời để gìn giữ các bài diễn tấu trống, chiêng, cách chế tác nhạc cụ từ tre, nứa, cây giang như khèn, abel, aheen, tuốt, tơrhoong, tơ-rel... Ông là nghệ nhân độc nhất vô nhị hiện nay ở xã Avương còn thuần thục chế tác và trình diễn thành thạo, có hồn các loại nhạc cụ cổ xưa nhất của người Cơ Tu.
Ông còn có biệt tài thẩm âm kỳ diệu từ nhạc cụ nhỏ như tơ-rel, aheen, khèn... đến trống chiêng, thanh la. Chỉ cần nghe tiếng trống ka-thu hay tiếng chiêng, thanh la vang lên từ xa xa, ông đã biết trống đó căng da chưa đủ, hay thanh chiêng, thanh la bị lệch nhịp.
Ông miệt mài chỉ dạy từng đứa trẻ trong làng cách chế tác nhạc cụ, cách cầm dùi, cách lết chân trên sàn đất để múa điệu Tâng tung da dá, cách cảm nhận tiết tấu bằng cả lồng ngực và cả trái tim.
Đối với ông, giữ được tiếng trống, tiếng chiêng, nhạc cụ, điệu múa truyền thống của cha ông chính là giữ được hồn cốt, gốc nguồn của tộc người Cơ Tu, để dù đi đâu xa, đứa trẻ Cơ Tu vẫn nhớ đường về với làng, với núi rừng Trường Sơn huyền thoại.

Hồn thiêng ngân dài qua đời người
Âm nhạc truyền thống Cơ Tu không tồn tại độc lập trên sân khấu riêng, mà thuộc về không gian sinh hoạt của cả cộng đồng, nơi có cánh rừng xanh, nơi có không gian làng truyền thống Cơ Tu, bên dòng sông, con suối, bên mái gươl làng uy nghiêm sừng sững, trước khoảng sân gươl, bên cột cây nêu (xơ-nur) trong các dịp lễ hội của làng như lễ hội: Ăn trâu đực, ăn dê đực, bò đực... để mừng gươl mới, mừng làng mới, mừng lúa mới, lễ cưới hay lễ kết nghĩa giữa các làng, các vùng của người Cơ Tu.
Nghệ nhân Alăng Bưng, thôn Lăng, xã Tây Giang cho biết: Trong các cuộc hòa tấu, trình diễn nhạc cụ, múa Tâng tung Da dá của người Cơ Tu, hình ảnh và âm thanh đánh lên đầu tiên luôn bắt nguồn từ chiếc trống ka-thu. Tiếng trống ka-thu giữ nhịp chủ đạo, vừa là hiệu lệnh, vừa là linh hồn dẫn dắt toàn bộ dàn nhạc cụ cồng, chiêng, thanh la, trống nhỏ, đến đội múa Tâng tung (dành cho nam), Da dá (dành cho nữ).
Nhạc cụ trống, chiêng nói riêng và âm nhạc truyền thống Cơ Tu nói chung không chỉ dừng lại ở giá trị giải trí hay trình diễn nghệ thuật độc đáo. Đó là tín hiệu buồn vui, là người bạn đồng hành xuyên suốt một vòng đời người Cơ Tu.
Khi một đứa trẻ cất tiếng khóc chào đời bên bếp lửa nhà sàn, lời ru, âm nhạc, nhạc cụ vang lên như lời thông báo với Yàng và xóm làng về một thành viên mới của làng được chào đời và được cộng đồng đón nhận, bảo vệ.
Khi đôi nam thanh niên đủ tuổi hẹn hò, chính nhạc cụ như abel, tơrhoong là thanh âm để tỏ tình vào những đêm trăng, khi mùa đi sim tới. Để rồi, khi đôi nam thanh nữ tú đó thành đôi vợ chồng, sống hạnh phúc, có con và hai gia đình đủ điều kiện cưới lớn, thì tiếng trống ka-thu, chiêng, thanh la... lại rộn rã chúc phúc cho tình yêu đôi lứa qua lễ hội cưới Cơ Tu (cưới lớn nhất).
Và đến khi nhắm mắt xuôi tay rời bỏ cõi tạm, âm nhạc, tiếng trống, thanh la, lại là bản nhạc tiễn đưa trầm đục, lưu luyến, đưa họ về với mẹ rừng, với ngàn xanh của cây lá, của núi rừng theo quan niệm về vòng đời của người Cơ Tu.
Du khách gần xa có dịp về trong mùa lễ hội, ngày Tết ghé thăm các thôn, làng của người Cơ Tu ở các xã Sông Kôn, Đông Giang, Bến Hiên, Avương, Tây Giang, Hùng Sơn, hay xã Nam Giang, Bến Giằng... đi giữa không gian bao la của đại ngàn Trường Sơn, người ta dễ dàng bắt gặp hội làng hòa cùng tiếng trống ka-thu, goòng, chiing, cơbhâr, hay những đêm trăng thanh, mùa đi sim tiếng nhạc ânjưl, abel, aheen dạt dào nói lên tâm tình của đôi lứa, nói lên khát vọng của ngàn xanh.
Âm thanh ấy như một làn gió mát rượi mang theo sinh khí mới, gắn kết dân làng sống đoàn kết, thương yêu nhau hơn, cùng nắm tay nhau xây dựng bản làng ngày thêm giàu đẹp.
Tiếng của nhạc cụ, nghệ thuật truyền thống Cơ Tu nơi cao xanh vì thế mà không bao giờ tắt. Nó vẫn ngân vang như chính nhịp đập trường tồn của những cánh rừng già lim, mun, pơmu, đa, giổi... cổ thụ hơn ngàn năm tuổi, nói lên khát vọng và tình yêu nguồn cội bền chặt, vang xa cùng thời gian.
PƠLOONG PLÊNH