baodanang.vn

Hồ sơ - Tư liệu

Những ao làng trên đất quê xưa

HÀ SÁU

ĐNCT - Làng Phong Ngũ - mảnh đất trầm mặc bên dòng sông đôi bờ Thanh Quýt - Giáp Năm, nơi đây từng có những chiếc ao làng hiền hòa gắn bó với biết bao thế hệ người dân.

1793068038646_1226601021678012505_1226601021678012505_c8f774411e7266cd430e9132ec147355.jpg
Ao Lam dấu tích còn lại. Ảnh: H.S

Những cái ao không chỉ là nơi tích nước, nuôi cá, mà còn là chứng nhân của bao biến đổi thăng trầm, in dấu cả một thời quê xưa lam lũ mà bình yên.

Ao Hợp - nơi hai dòng nước gặp nhau

Ao Hợp là một cái ao nhỏ nằm ở xóm trên của làng Phong Ngũ, tại giao điểm giữa đường số 7 và đường số 11 - nay thuộc tổ dân phố Phong Ngũ, phường An Thắng, thành phố Đà Nẵng. Không ai còn nhớ rõ ao có từ bao giờ, chỉ biết rằng nó đã trở thành một phần ký ức thân thuộc của tuổi thơ làng quê.

Thuở xưa, đồng ruộng chủ yếu tưới bằng xe nước đạp chân, xe trâu, gàu sòng, gàu giai… Việc đưa nước từ sông vào ruộng vô cùng vất vả, mà diện tích gieo cấy lại chẳng được bao nhiêu. Mãi đến năm 1933, sau khi khảo sát thủy văn, người Pháp mới cho xây dựng một con đập - gọi là barrage - nối hai bờ sông hai làng Phong Ngũ và Thanh Quýt, lấy tên là Đập Thanh Quýt, nằm cách cầu Giáp Năm chừng ba trăm mét về phía Tây. Đây là một phần của hệ thống đập An Trạch (Hòa Tiến cũ) và Bàu Nít (Điện Bàn Bắc).

Tuy nhiên, khi ấy chưa có hệ thống mương tưới nên nước từ đập vẫn không thể chảy sâu vào đồng ruộng. Đến năm 1941, phủ Điện Bàn chủ trương đào mương dẫn thủy nhập điền. Hệ thống mương của xóm trên khởi đầu từ vườn ông Quý (nay là nhà Trương Cẩm), luồn qua vườn Hương Thưởng, Thủ Thích, Thủ Vĩnh, Quyền Nghê, ao Thủ Kỳ (vị trí nhà Văn hóa hiện nay), rồi đến vườn Phó Bảy, Thủ Toán, trước khi đổ ra đồng.

Mương xóm dưới bắt đầu từ vườn ông Thơ, chạy qua ao Hợp, xuống ngõ nhà thờ tộc Hà, rồi theo đường nước qua các vườn… cuối cùng nhập vào cống Hươn, chảy xuống cầu ông Lệ. Nước được ngăn lại, tạo thành một chiếc ao lớn để dùng xe trâu, xe chân đạp nước lên đồng.

Như vậy, ao Hợp ra đời từ năm 1941 - khi phong trào dẫn thủy nhập điền bắt đầu. Tên “Hợp” cũng từ đó mà có: hợp lại của hai con mương, hợp lại của hai con đường, và hợp lại của tình người, của bao vất vả cần lao.

Ba bụi tre lớn nhà Nghiêng, nhà Nhu và vườn Thủ Thích tỏa bóng mát quanh năm, khiến nơi đây thành chốn tụ tập, nô đùa quen thuộc của lũ trẻ mỗi trưa hè. Nhưng đêm xuống, giữa bóng tối mịt mù, nhiều người đi lạc vào bụi rậm không tìm được lối ra, dân làng tin rằng bị ma dẫn đường. Lũ nhỏ chúng tôi chẳng dám bén mảng đến gần vào những đêm tối trời.

Giờ đây, ao Hợp chỉ còn trong ký ức - nơi hai dòng nước và bao câu chuyện tuổi thơ gặp nhau giữa miền quê yên ả.

Ao Lam - dấu xưa cầu Leo

Trong số các ao làng Phong Ngũ, ao Lam là cái lớn nhất, nằm ngay trước trường Nguyễn Trãi cũ, rộng gần một sào đất. Tất cả nguồn nước tiêu từ các cánh đồng Thùy Chu, Thượng Điền, Thượng Thổ, Hóa Nội… đều đổ về đây trước khi ra sông Thanh Quýt.

Ngày trước, ao Lam được xếp vào loại ruộng quân cấp - tức có giá trị sản xuất, vì thu nhập từ cá đồng ở đây không nhỏ. Tại nơi dòng nước từ đồng đổ xuống, người ta đặt sa đơm cá. Cá lớn nhỏ đều theo dòng chảy về đơm, cứ vài giờ lại dỡ một lần, có khi được cả rổ đầy. Gần đó còn có một đuột cá lớn để hứng những con cá to, cá rô, cá trê, cá chép…

Tên gọi ao Lam bắt nguồn từ việc ao nằm cạnh vườn của ông Hà Đức Lam - đời thứ 12, phái nhì, chi nhất, tộc Hà. Ngoài ra đôi khi dân làng còn gọi tên “Ục Lại” là vì: ao nằm sau vườn nhà ông Kiểm Lại - người từng giữ chức Hương Kiểm, lo việc trị an trong làng. Cả hai tên đều tồn tại trong dân gian, gắn liền với hai nhân vật đáng kính của một thời.

Để nước từ ao chảy thông ra sông, dân làng dựng một cây cầu nối hai đầu đường trục chính đi qua làng - chiếc cầu ấy gọi là Cầu Leo. Có người kể, thuở ban đầu cầu làm bằng tre, vòm cao, muốn qua phải “leo” lên nên thành tên gọi. Lại có truyền ngôn rằng ông Hà Đức Giao, người dựng chiếc cầu tre đầu tiên, được triều đình ban thưởng chức Cửu phẩm vì công ấy. Dù theo truyền tích nào, “Cầu Leo” vẫn là cái tên thân thuộc in đậm trong ký ức làng.

Vào mùa mưa lũ, khi nước dâng ngang mặt đồng, dân làng rủ nhau kéo rớ, thả lờ, bắt cá quanh ao. Tiếng hò reo vang khắp xóm, tiếng cười nói rộn rã hòa cùng hơi nước bốc lên trắng xóa, tạo nên một bức tranh quê vừa lam lũ vừa ấm áp.

Ngày nay, xã đã lên phường, thôn thành tổ dân phố, đường làng xưa đã mang tên Nguyễn Trãi. Cầu Leo được bê tông hóa, vững chãi, còn ao Lam - hay Ục Lại - vẫn nằm đó, âm thầm đón mùa nước đổ về, như giữ lấy một mảnh hồn quê trong nhịp sống hiện đại.

Ao Mân - bên góc vườn nhà

Ao Mân là một cái ao nhỏ nằm cạnh con đường công hương xưa - nay cũng là đường Nguyễn Trãi. Ao thông với mương thoát nước từ cánh đồng Rộc, chảy qua dọc vườn ông Hà Lụa đến ngõ Hà Tào, rồi xuôi theo cống Chọn ra sông.

Ao được đào chủ yếu để dự trữ nước tưới rau màu, vừa là nơi sinh sôi của cá, lươn vào mùa lụt. Theo lệ xưa, nhà ai có vườn thì đào ao để dùng chung cho sinh hoạt, nên tên ao thường gắn liền với chủ đất. Ao Mân cũng vậy - mang tên ông Hà Đức Mân, đời thứ 11, con trai ông Hà Đức Tề, phái nhì, chi nhì tộc Hà.

Công dụng của ao không chỉ để nuôi cá, mà còn là nơi ngâm tre - một công đoạn quan trọng trong việc dựng nhà. Tre ngâm lâu dưới bùn nước có thể chống mối mọt hàng chục năm. Có những ngôi nhà tre ngâm kỹ đến mức trụ được cả trăm năm vẫn vững vàng.

Sau mỗi mùa lụt, lươn từ thượng nguồn trôi xuống trú ngụ trong bùn ao, bà con lại đặt ống trúm quanh bờ để bắt. Sáng ra rút ống trúm, những con lươn vàng óng mập mạp được đem nấu canh khoai chói - món ăn dân dã mà ngon đến nao lòng.

Ngày nay, dấu tích ao Mân chỉ còn là vùng đất thấp với cây cối um tùm, phía đông giáp vườn nhà ông Hà Liểu, phía Tây giáp nhà ông Hà Công, nam giáp đường Nguyễn Trãi, bắc giáp mương tiêu trước ngõ Hà Lợi. Dẫu ao đã lấp, nhưng hình bóng xưa vẫn còn đọng lại trong tâm trí người làng.

Bao năm qua đi, những ao làng Phong Ngũ - ao Hợp, ao Lam, ao Mân… - dẫu đổi thay hình dạng, vẫn lặng lẽ lưu giữ hơi thở của quê hương. Chúng như tấm gương soi lại một thời nhọc nhằn mà nghĩa tình, nơi dòng nước mát từng gắn bó với bao đời người, để mỗi khi nhắc lại, lòng người lại dâng lên một niềm thương nhớ khôn nguôi.

HÀ SÁU