baodanang.vn

Theo bước chân người Quảng

Dấu xưa trong trang phục

PHÙNG TẤN ĐÔNG

VHXQ - Cùng với ẩm thực, trang phục là một trong những thành tố văn hóa, bên cạnh kiến trúc, tập quán xây dựng, lệ tục, tín ngưỡng…, tạo nên “nếp ăn, nếp mặc, nếp ở”, thể hiện đậm nét truyền thống văn hóa của một cộng đồng cư dân, đặc biệt là xứ Quảng.

Kim Liên
Xứ Quảng - Vùng đất sinh tụ của nhiều lớp và cộng đồng cư dân. Ảnh: Kim Liên

Xứ Quảng vốn là cộng đồng gồm nhiều lớp cư dân, nhiều nguồn gốc, cộng cư qua nhiều thời kỳ. Trước đó đã có cư dân người Chăm sinh sống; rồi cư dân người Việt từ phía Bắc vào, chủ yếu từ vùng Thanh - Nghệ, diễn ra qua nhiều đợt, nhất là từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 20. Đây cũng là nơi cư trú ổn định của cộng đồng người Hoa, thương nhân Nhật Bản và là điểm giao thương với thương nhân các nước phương Tây.

Mỗi lớp cư dân mang đến đây những thói quen, tập tục ăn mặc của cộng đồng mình; cùng với đó là những “quy chế”, “định chế” về văn hóa mặc của Nhà nước phong kiến qua các thời kỳ. Tất cả dần hình thành nên một “nếp mặc” của cư dân xứ Quảng, vừa có bản sắc riêng, vừa mang dấu ấn của quá trình giao lưu, tiếp biến.

Có thể nhìn cách mặc của cư dân xứ Quảng qua ba thời kỳ: thời kỳ mở đất “Nam tiến”; thời kỳ giao thương, giao lưu văn hóa, khi Hội An trở thành thương cảng quốc tế và được các thương nhân, nhà truyền giáo phương Tây gọi là “Quảng Nam quốc”; và thời kỳ cận - hiện đại.

Theo bước chân lưu dân

Cư dân vùng Thanh - Nghệ, một số từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ trên bước đường Nam tiến - tương truyền được gọi là “Ông Ba Bị”. Theo học giả Nguyễn Văn Xuân trong Nguyễn Văn Xuân - sức sống văn hóa xứ Quảng cho biết, “ba bị” có thể được hiểu là những thứ người đi mở đất mang theo, từ con cái, thóc giống đến dao rựa, cuốc thuổng để khai hoang, vỡ đất.

Trang phục của người dân Đà Nẵng trong một ngôi chợ ven sông được chụp năm 1892 . Ảnh Camille Paris
Trang phục của người dân Đà Nẵng trong một ngôi chợ ven sông được chụp năm 1892 . Ảnh: Camille Paris

Trong hoàn cảnh ấy, việc ăn mặc rất đơn sơ: một manh vải choàng trên thân làm áo, một manh vải quấn qua hai chân, buộc sợi vải quanh bụng làm khố thay quần; thường thì ở trần, đóng khố. Những người trai tráng phải lao động cật lực dưới vùng trời mới, đất mới, với mùa hè nắng lửa, gió Lào, mùa mưa “như cầm chĩnh đổ”, nên trước hết chỉ mong “ăn no mặc ấm”. Ca dao xứ Quảng còn lưu những câu ca về nỗi gian truân của người mở cõi: “Giậm chân xuống đất kêu trời/Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra?”; hay: “Đến đây xứ sở lạ lùng/Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh”.

Khi Chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận - Quảng, trang phục và nhiều phong tục của cư dân nơi đây cơ bản còn giống phía Bắc. Sang thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635), theo ghi chép được dẫn lại, Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn thay đổi phong tục để tạo sự khác biệt với Đàng Ngoài, trong đó có cách ăn mặc của phụ nữ: bỏ áo tứ thân, yếm, tóc vấn, váy để mặc áo năm thân cài khuy, quần.

Tuy vậy, trong đời sống dân gian, nhất là tầng lớp lao động, cách mặc vẫn còn đơn giản. Theo những ghi chép của Thích Đại Sán trong Hải ngoại kỷ sự, Thái Đình Lan trong Hải Nam tạp trứ…, đến giữa thế kỷ 17 vẫn còn người lao động, nhất là ngư dân và những người phục dịch ở trần, đóng khố. Khi làm đồng, người dân thường mặc áo tơi - loại áo chống nắng, mưa, rét được chằm hoặc đan bằng lá cọ, lá tơi, lá mây, lá tranh…, kết bằng sợi mây, cước. Hình ảnh ấy đi vào câu ca: “Chồng em áo rách như là áo tơi”. Những người có của ăn của để thì “ăn trắng mặc trơn” hơn. Sự giao lưu với người Chăm cũng để lại dấu ấn trong cách mặc. Ô châu cận lục của Dương Văn An ghi: “Phụ nữ mặc quần vải Chiêm, đàn ông tay cầm quạt Tàu”.

pont japonais
Trang phục người dân phố Hội đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu

Thời thương cảng phồn thịnh

Từ giữa thế kỷ 16, khi Hội An trở thành thương cảng quốc tế, xứ Quảng bước vào thời kỳ giao thương thịnh vượng của xứ Nam Hà, cũng là lúc trang phục có những thay đổi đáng kể, từ “ăn no mặc ấm” dần sang “ăn no mặc đẹp”.

Trong Xứ Đàng Trong năm 1621, giáo sĩ Cristoforo Borri ghi nhận tơ lụa rất thông dụng ở Đàng Trong, trang phục của cả phụ nữ và đàn ông đều nhiều lớp, kín đáo, cầu kỳ và giàu màu sắc. Cùng thời gian, người Hoa, người Minh Hương vẫn mang theo những kiểu trang phục truyền thống như “trường bào mã quái”, “Đường trang” cổ đứng; về sau có “Tôn Trung Sơn trang” (đại cán), phụ nữ có “sườn xám”, một loại áo dài cổ dựng. Sự hiện diện của các cộng đồng cư dân và thương nhân nhiều nguồn gốc khiến diện mạo trang phục ở Hội An và xứ Quảng thêm đa dạng.

Trong đời sống người Việt, phụ nữ còn mặc yếm may hai lớp vải, ôm sát cổ, có hai dây buộc ra sau; lớp trong có thể dùng để cất tiền, trầu. Hình ảnh ấy đi vào câu ca: “Trầu em têm tối hôm qua/Cất trong dải yếm bỏ ra mời chàng”. Đàn ông làm nghề nông, nghề tang và phụ nữ thường mặc áo lá, áo sát nách, áo cánh, áo ngắn tay, áo bà ba, áo dài tay xẻ tà; khi đi lễ lạc, hội hè thì mặc áo dài, khăn đóng. Trang phục vì thế vừa đáp ứng nhu cầu lao động, sinh hoạt, vừa thể hiện sự phân biệt theo hoàn cảnh và nghi lễ.

Sâm Ngọc
Một thoáng áo dài tung bay trên phố... Ảnh: Sâm Ngọc

Nét cũ giữa nhịp sống mới

Từ thế kỷ 19 sang thế kỷ 20, trong quá trình Âu hóa, trang phục xứ Quảng tiếp tục thay đổi, đặc biệt là sự hình thành và cách tân liên tục của chiếc áo dài phụ nữ. Áo dài phụ nữ xứ Quảng có sự giao thoa với áo dài hai miền Nam - Bắc, dần tạo nên kiểu may “nhanh, đẹp, bền” như áo dài Hội An hiện nay.

Với đàn ông xứ Quảng, bên cạnh Âu phục còn có quần lá tọa, dây lưng rút, còn gọi là quần chân con, được người nông thôn mặc lúc thư nhàn cũng như khi lao nhọc. Việc hớt tóc ngắn từ thời Duy tân đầu thế kỷ 20 cũng góp phần tạo nên diện mạo mới của người đàn ông trong đời sống hiện đại.

Trang phục xứ Quảng là tổng hòa của sự giao lưu, tiếp biến với nhiều loại trang phục và tín ngưỡng, tôn giáo. Qua các thời kỳ, “nếp mặc” xứ Quảng luôn vận động cùng lịch sử vùng đất. Có lẽ chính khả năng tiếp nhận và thích ứng ấy đã làm nên bản sắc riêng của trang phục xứ Quảng: vừa giàu tính bản địa, vừa cởi mở trước những ảnh hưởng bên ngoài. Hôm nay, nghề may ở Hội An, Đà Nẵng trong kinh tế du lịch tiếp tục làm cho những giá trị ấy hiện diện giữa đời sống, tạo nên một dấu ấn văn hóa và sức hấp dẫn riêng đối với du khách.

PHÙNG TẤN ĐÔNG