Đưa chính sách sát nhu cầu nhà nông
Việc tháo gỡ những vướng mắc về hồ sơ, vốn đối ứng, hạ tầng, quản lý dữ liệu và giám sát sau hỗ trợ là các yếu tố quan trọng để chính sách trong lĩnh vực nông nghiệp đi vào cuộc sống, nâng cao hiệu quả sản xuất, gia tăng giá trị kinh tế và cải thiện thu nhập cho nông dân.
Gỡ điểm nghẽn tiếp cận
Những nghị quyết liên quan đến nông nghiệp được HĐND thành phố thông qua mở thêm nguồn lực phát triển, song khả năng tiếp cận vẫn phụ thuộc vào cách triển khai ở cơ sở.

Tại nhiều địa phương, cán bộ đi từng khu vườn, vùng sản xuất để rà nhu cầu, điều kiện đất đai, vốn đối ứng và hồ sơ, giúp người dân biết mình được hỗ trợ gì và phải chuẩn bị ra sao trước khi quyết định đầu tư.
Rà soát từng khu vườn
Khu vườn khoảng 4.300m2 của ông Mai Thanh Hải (khối phố Phú Thạnh, phường Quảng Phú) trước đây chủ yếu trồng keo. Hai năm trước, ông cải tạo để chuyển sang cây ăn quả. Thế nhưng, lần đầu chuyển đổi chưa đạt như kỳ vọng. Ông Hải trồng 10 cây xoài, 20 cây mít và 20 cây ổi, nhưng thiếu nguồn nước tưới khiến nhiều cây sinh trưởng kém, có cây bị chết.
Khi Hội Nông dân phường Quảng Phú rà soát các khu vườn có khả năng đầu tư, cán bộ hội đã liên hệ, mời ông Hải nghe phổ biến Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND về Quy định chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2026 - 2030 và hướng dẫn nội dung có thể đăng ký. Trước đó, ông chưa biết chính sách gồm những hạng mục nào, điều kiện ra sao và phải chuẩn bị vốn đối ứng thế nào.
Sau buổi hướng dẫn, ông Hải dự kiến đầu tư khoảng 100 triệu đồng để chỉnh trang vườn, hoàn thiện hệ thống tưới và lựa chọn thêm cây phù hợp.

Ông Nguyễn Văn Hiệu, Phó Chủ tịch UBND phường Quảng Phú cho biết, lãnh đạo phường đã phân công từng cơ quan, đơn vị phụ trách các nhóm nội dung của Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND, phối hợp với Mặt trận, hội đoàn thể và khối phố rà soát đối tượng, tổng hợp nhu cầu. Riêng kinh tế vườn, kinh tế trang trại, Hội Nông dân phường được giao làm đầu mối tiếp nhận, hướng dẫn hồ sơ. Chủ vườn muốn tiếp cận chính sách phải có diện tích liền thửa tối thiểu 1.000m2, có phương án sản xuất phù hợp. Những phương án có thời gian sử dụng đất ổn định từ 5 năm trở lên hoặc có hợp đồng thuê đất, liên kết sản xuất ổn định từ 5 năm trở lên được ưu tiên.
Năm 2026, thành phố phân bổ cho Quảng Phú 1,57 tỷ đồng thực hiện Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND. Chính sách hỗ trợ công trình cấp nước, hệ thống tưới, chỉnh trang vườn, giống cây trồng dài ngày và vật tư. Hồ sơ yêu cầu người đăng ký nêu rõ quy mô, tổng vốn, diện tích đất, tiến độ, nội dung đề nghị hỗ trợ và phần vốn đối ứng.
“Việc hướng dẫn phải đi sát từng trường hợp để người dân biết mình đủ điều kiện ở nội dung nào. Trường hợp của ông Hải được nhìn từ điểm yếu là thiếu nước, rồi mới tính tới giống cây và bố trí sản xuất. Khi nhu cầu được xác định rõ trước khi làm hồ sơ, khoản hỗ trợ có cơ sở bám sát phần việc người dân đang cần giải quyết”, ông Hiệu cho biết thêm.
- Công trình cấp nước
- Hệ thống tưới
- Chỉnh trang vườn
- Giống cây trồng dài ngày
- Vật tư
- Quy mô
- Tổng vốn
- Diện tích đất
- Tiến độ
- Nội dung đề nghị hỗ trợ
- Phần vốn đối ứng
Chủ động xét nhu cầu
Tại xã Thu Bồn, trang trại của Hợp tác xã Nông nghiệp và dịch vụ kinh doanh tổng hợp Viet Farm Food có nhu cầu hỗ trợ rất cao khi chính sách đi vào đời sống, phổ biến đến cơ sở. Ông Trần Công Danh, đại diện Ban Giám đốc hợp tác xã cho biết, đơn vị đã đầu tư hơn 3 tỷ đồng, hình thành vùng rau 8ha và hiện khai thác 2-3ha với rau muống, mồng tơi, cải ngọt, cải ta. Sản lượng đạt khoảng 2-3 tấn mỗi tháng, chủ yếu cung cấp cho nhà hàng, khu nghỉ dưỡng và các đầu mối đã liên kết.
Với đất sản xuất rộng, nguồn nước tưới bảo đảm, hợp tác xã tính mở rộng diện tích, đầu tư công nghệ cao, hữu cơ và tăng liên kết đầu ra. “Điều kiện đất và nước ở đây khá thuận lợi, chính quyền địa phương tạo mọi thuận lợi cho hợp tác xã phát triển. Sắp tới, chúng tôi muốn mở rộng thêm, nghiên cứu nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và liên kết sản xuất nếu tiếp cận được cơ chế hỗ trợ phù hợp”, ông Danh cho biết.

Ông Nguyễn Hồng Vinh, Phó Chủ tịch UBND xã Thu Bồn cho biết, địa phương đã thông tin các nghị quyết qua hệ thống truyền thanh, trang thông tin điện tử, nhóm Zalo cộng đồng và tập huấn, đồng thời yêu cầu bộ phận chuyên môn tổng hợp đăng ký của người dân, hợp tác xã. Qua triển khai, xã nhận thấy nhiều chủ thể chưa nắm hết điều kiện thụ hưởng, cách chuẩn bị hồ sơ, nên nhu cầu gửi lên không phản ánh tiềm năng sản xuất.
Thu Bồn đang chuyển sang cách làm chủ động hơn, rà từng mô hình, kiểm tra vấn đề đất đai, pháp lý, sau đó trao đổi với chủ thể về hạ tầng, giống, kỹ thuật, liên kết hoặc nhu cầu phát triển sản phẩm OCOP theo Nghị quyết số 23/2025/NQ-HĐND về Quy định chính sách hỗ trợ Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026 - 2030.
Theo ông Vinh, có những nội dung chính sách rất sát với sản xuất nhưng người dân chưa hiểu hết thì họ chưa biết mình có thể đăng ký gì. Cán bộ chuyên môn phải chủ động đi xuống, nhìn tiềm năng của từng mô hình, xem điều kiện đất đai và pháp lý đã bảo đảm đến đâu rồi tư vấn nội dung phù hợp.
“Cán bộ theo dõi kinh tế nông nghiệp cần nắm chắc quy định trước khi hướng dẫn người dân. Cách làm này giúp hạn chế hồ sơ thiếu điều kiện, để chủ thể biết phần vốn và phần việc phải chuẩn bị. Khi chính sách được giải thích bằng khu vườn, vùng rau hay phương án đầu tư đang có, người dân dễ hình dung khả năng tham gia và địa phương thuận lợi hơn trong lựa chọn mô hình có thể duy trì sau hỗ trợ”, ông Vinh nói.
Cần dữ liệu phục vụ sản xuất
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, việc xây dựng bản đồ số nông nghiệp, tích hợp dữ liệu về vùng trồng, quy mô, mùa vụ và sản phẩm là cần thiết, tạo cơ sở tin cậy để người dân, chính quyền và nhà đầu tư định hướng sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

Bản đồ quyết định mùa vụ
Tại hội nghị đối thoại giữa thành phố với nông dân vào cuối tháng 8/2026, ông Hồ Đắc Vũ, thành viên Hợp tác xã Nông nghiệp Duy Thành (xã Duy Nghĩa) đặt vấn đề về khoảng cách giữa công nghệ với người trực tiếp sản xuất. Theo ông Vũ, số nông dân sử dụng hiệu quả truy xuất nguồn gốc, sàn thương mại điện tử, bán hàng qua mạng xã hội hay hệ thống tưới tự động còn ít, trong khi drone, cảm biến IoT và phần mềm nhật ký sản xuất chưa được sử dụng rộng. Ông Vũ đề nghị, thành phố cần xây dựng bản đồ số nông nghiệp, gắn thông tin sản xuất với nhu cầu thị trường để hạn chế tình trạng người dân mở rộng một loại cây nhưng thiếu căn cứ về sản lượng và đầu ra sản phẩm.
Duy Nghĩa có cơ cấu sản xuất khá đa dạng. Theo báo cáo của UBND xã, giá trị sản xuất nông nghiệp 9 tháng năm 2026 đạt 252 tỷ đồng, chiếm 14,6% cơ cấu kinh tế địa phương. Xã có 50ha nuôi tôm, cùng hoạt động trồng trọt và khai thác thủy sản. Khi thông tin về mùa vụ, diện tích, sản lượng và thị trường còn nằm ở nhiều đầu mối, người dân khó nhìn được bức tranh chung trước khi chuyển đổi cây trồng, tăng diện tích hay đầu tư thêm hạ tầng.

Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, sẽ tăng cường dự báo thị trường, cung cấp thông tin về nhu cầu, giá cả, hướng dẫn lịch thời vụ và cơ cấu cây trồng, tiếp tục tập huấn nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc. Thành phố cũng đang đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu và bản đồ số phục vụ quản lý các vùng sản xuất cây trồng tập trung, quy mô lớn, giúp địa phương dự báo nguồn hàng, nhận diện nơi cần đầu tư hạ tầng. Từ đây, người dân có thêm căn cứ lựa chọn cây trồng, thời điểm sản xuất và đầu ra sản phẩm.
Dữ liệu từng khu vườn
Ở thôn Tiên Châu, xã Sơn Cẩm Hà, khu vườn của ông Hoàng Bảo Thạch có cam, măng cụt và sầu riêng. Nhiều năm qua, sản phẩm chủ yếu bán trong địa phương cho người quen hoặc khách đã biết đến khu vườn. Khi sản lượng tăng, ông bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc và thông tin giúp người mua nhận biết sản phẩm được làm ra ở đâu.

Sơn Cẩm Hà hiện có hơn 3.000ha kinh tế vườn. Theo ông Hoàng Anh Tuấn, Phó Chủ tịch UBND xã, việc ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất ở địa phương hiện còn hạn chế. Một số diện tích có điều kiện phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại vẫn đang trồng keo, trong khi nhiều loại cây đặc sản phù hợp với thổ nhưỡng vùng Tiên Phước có khả năng tạo giá trị cao hơn. Việc xác định khu vực nào có thể chuyển đổi, cây trồng nào phù hợp, nơi nào cần đầu tư nguồn nước vì vậy cần thêm dữ liệu về đất đai, hiện trạng cây trồng, hạ tầng và khả năng tiêu thụ.
Bên cạnh đó, hạ tầng dữ liệu cũng được hình thành qua nhiều năm thực hiện chính sách hỗ trợ kinh tế vườn. Nghị quyết số 35/2021/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Quảng Nam trước đây tiếp tục được thực hiện trong thời gian chuyển tiếp sau hợp nhất và hết hiệu lực khi Nghị quyết số 17/2026/NQ-HĐND của HĐND thành phố Đà Nẵng có hiệu lực từ ngày 10/6/2026. Những hồ sơ về khu vườn đã được hỗ trợ, diện tích, cây trồng, công trình nước tưới hay hạng mục đầu tư nếu được kế thừa trên một hệ thống chung sẽ giúp địa phương đánh giá được nơi đã đầu tư, hiệu quả ra sao và khu vực nào còn cần nguồn lực trong giai đoạn tiếp theo.
Theo ông Tuấn, dữ liệu sản xuất cũng cần gắn với mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, thương hiệu và thị trường để thông tin được sử dụng ngay trong hoạt động của nhà vườn. “Diện tích kinh tế vườn của xã khá rộng, có nhiều loại cây ăn quả đã và đang tạo thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và chuyển đổi số trong sản xuất hiện còn rất hạn chế. Chúng tôi mong thành phố có những hỗ trợ cụ thể hơn cho từng địa phương, phù hợp với thực tế sản xuất, giúp người dân từng bước ứng dụng công nghệ từ quá trình đầu tư, canh tác đến quảng bá, xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm”, ông Tuấn chia sẻ.
Hỗ trợ thực chất, rõ trách nhiệm
Nguồn lực hỗ trợ chỉ phát huy hiệu quả khi được theo dõi đến cùng. Từ khâu tiếp cận chính sách, lựa chọn mô hình, bố trí vốn đến kiểm tra sau đầu tư, mỗi bước đều cần rõ trách nhiệm.

Kiểm chứng từ kết quả mô hình
Từ giữa tháng 7/2026, Hợp tác xã Nông nghiệp Đại Minh (xã Vu Gia) triển khai mô hình rau hữu cơ trên 1,1ha ở thôn Lâm Yên, với các loại rau như mồng tơi, dền, cải... Hợp tác xã đã thu khoảng 5 tạ rau dền, gần 1 tấn mồng tơi, đậu bắp tiếp tục thu hoạch với sản lượng hơn 5 tạ.
Ông Ngô Văn Phi, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Đại Minh cho biết: “Dự án có tổng kinh phí hơn 544 triệu đồng, trong đó nguồn từ Nhà nước hỗ trợ hơn 273,5 triệu đồng. Kinh phí dành cho giống, phân bón, tập huấn, cán bộ kỹ thuật, phân tích đất, nước và dư lượng, chứng nhận và một phần hệ thống tưới. Hợp tác xã vẫn phải đối ứng vốn nên từng cây, thời vụ và hiệu quả đều phải tính kỹ”.
Với một mô hình mới, kết quả từng lứa rau vì vậy trở thành căn cứ thực tế để hợp tác xã và địa phương cùng nhìn lại thời vụ, giống, quy trình chăm sóc trước khi tính chuyện mở rộng. Bà Nguyễn Thị Hoa, Trưởng phòng Kinh tế xã Vu Gia cho biết, đơn vị được giao làm đầu mối tham mưu UBND xã triển khai dự án, phối hợp đơn vị chuyên môn theo dõi tiến độ, kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu và tổng kết. Địa phương phải rà điều kiện đất đai, khả năng đối ứng, chủ thể thực hiện và phương án sản xuất.
Xã Vu Gia đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển 26ha rau màu, 10ha cây ăn quả theo hướng hữu cơ và vùng chăn nuôi bò khoảng 500 con. Mô hình tại Lâm Yên là nơi kiểm chứng cách phối hợp giữa vốn, kỹ thuật và trách nhiệm theo dõi. Nếu quy trình được duy trì, chất lượng ổn định và người sản xuất có thể tiếp tục vận hành sau hỗ trợ, việc mở rộng mới có cơ sở.

Đo hiệu quả sau hỗ trợ
Việc người dân tiếp cận được chính sách mới là bước đầu. Sau khi nguồn lực được đưa xuống, yêu cầu tiếp theo là phải biết khoản hỗ trợ đã tạo ra thay đổi gì. Bà Vũ Thị Bích Hậu, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, ngành đã hỗ trợ 98 dự án liên kết sản xuất nông sản với 97 hợp tác xã, 77 doanh nghiệp và gần 19.500 hộ dân, tổng vốn đầu tư hơn 381 tỷ đồng. Tuy vậy, tổ chức sản xuất theo chuỗi giữa các địa bàn chưa đồng đều, nhiều hộ vẫn quyết định giống, thời vụ và sản lượng rồi mới tìm nơi tiêu thụ.
Theo bà Hậu, với mô hình ứng dụng công nghệ, dữ liệu ban đầu cần được ghi nhận trước khi đầu tư, sau một số chu kỳ sản xuất phải đo lại bằng cùng nhóm chỉ tiêu. Năng suất, lượng vật tư, giá bán, doanh thu và lợi nhuận đều cần được đối chiếu. Đây là cách để biết giải pháp có phù hợp với điều kiện sản xuất hay chỉ dừng ở việc hoàn thành lắp đặt và giải ngân.

Tại hội thảo về chuyển đổi số kinh tế vườn, kinh tế trang trại đầu tháng 10/2026 ở xã Tiên Phước, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hồ Quang Bửu cho rằng, chính sách hỗ trợ kinh tế vườn, kinh tế trang trại cần đi sát nhu cầu thực tế và khả năng tiếp nhận của người dân. Công nghệ đưa xuống vườn phải giải quyết việc cụ thể, giúp tăng thu nhập, giảm chi phí, sử dụng hiệu quả hơn đất, nước và lao động. Thành phố cần có cơ chế hỗ trợ cho đơn vị cung cấp giải pháp và người sử dụng, đồng thời lựa chọn mô hình theo tiêu chí rõ ràng, tránh đầu tư thiết bị tốn kém nhưng khó vận hành. Những cách làm hiệu quả cũng cần được ghi nhận, phổ biến để người dân có thêm căn cứ lựa chọn.
Theo ông Bửu, hỗ trợ phải gắn với theo dõi kết quả sau đầu tư. Sở Khoa học và Công nghệ nghiên cứu giải pháp cụ thể, xây dựng cơ sở dữ liệu kinh tế vườn, kinh tế trang trại để đối chiếu hiệu quả trước và sau khi áp dụng. Hệ thống tưới phải cho thấy lượng nước, công lao động hay chi phí được tiết giảm, còn công nghệ quản lý phải giúp chủ vườn sản xuất thuận lợi hơn.
Ở cấp thành phố, trách nhiệm thực thi bắt đầu từ việc giúp người dân hiểu chính sách và tiếp cận đúng cơ chế. Theo ông Nguyễn Út, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân thành phố, hội đang tập trung triển khai Nghị quyết 17, trong đó các cấp hội phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn hội viên hoàn thiện thủ tục. Trong tháng 9 và tháng 10/2026, các hoạt động ở cấp thành phố thu hút hơn 1.000 lượt hội viên tham gia. “Chúng tôi đang tập trung triển khai Nghị quyết 17 khá quyết liệt. Hội Nông dân các phường, xã được giao phối hợp với chính quyền địa phương tiếp cận cụ thể từng trường hợp, hướng dẫn thủ tục để bà con nông dân có thể tiếp cận và thụ hưởng các cơ chế của nghị quyết”, ông Út cho biết.
Nội dung: PHAN VINH - AN NHIÊN - NAM PHƯỚC
Trình bày: MINH TẠO
PHAN VINH - AN NHIÊN - NAM PHƯỚC