baodanang.vn

Văn hóa

Chiếc nón lá xứ Quảng

HỒ THU

VHXQ - Chiếc nón lá từ bao đời nay luôn là “người bạn đường” thân quen của người phụ nữ xứ Quảng trong công việc hằng ngày như làm đồng, đi chợ, buôn bán…, làm thêm duyên cho tà áo dài thướt tha, chiếc áo bà ba gọn gàng, trong những việc quan trọng của gia đình hay lễ hội, ngày Tết. Những nét xưa ấy vẫn gìn giữ đến nay và nó đã trở thành biểu tượng cho sự chịu thương chịu khó, dịu dàng của người phụ nữ.

img_9721-copy.jpg
Nón lá theo phụ nữ xứ Quảng ra đồng. Ảnh: Lê Trọng Khang

Từ vẻ đẹp truyền thống…

Ở xứ Quảng - khúc ruột miền Trung nắng lắm mưa nhiều và công việc thường nhật mưu sinh gắn với đồng áng “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” nên nón lá được dùng phổ biến. Cũng như xứ Huế hoặc nhiều nơi khác, chiếc nón lá xứ Quảng có một hành trình bền bỉ và đã từng bước chuyển mình. Từ công dụng thuở ban đầu che nắng mưa, rồi trở thành trang phục và biểu tượng riêng có.

Các làng nghề nón hình thành và phát triển hưng thịnh một thời, lưu danh trước đây như làng Giảng Hòa (xã Đại Thắng, Đại Lộc cũ), Mỹ Xuyên (thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên), Quế Xuân, Quế An, Quế Minh (Quế Sơn), Điện Minh, Vĩnh Điện (Điện Bàn)…, nón lá được chở đi bán khắp xứ Quảng.

Lịch sử ghi nhận nghề chằm nón lá xứ Quảng có nguồn gốc từ những cư dân vùng Thanh - Nghệ vào lập làng mang theo nghề này. Trước đây, khi còn thời hưng thịnh của chiếc nón, họ truyền nhau học nghề, theo nghề. Lựa tre, vót tre làm vành, đi hái lá nón trên núi, chọn lá, phơi và ủi thẳng lá.

Chiếc nón lá tròn xoay, từng vành tròn trịa từ nhỏ nhất ở chóp đỉnh đến lớn dần vừa vặn, từng thớ lá được phơi khô, ủi thẳng phủ lên khung. Cứ thế, bàn tay tài hoa nhịp nhàng với từng mũi kim, sợi chỉ cước lần lượt xoay theo từng vành nón từ nhỏ đến lớn, rồi nút chỉ vành lớn nhất. Nón hai lớp lá, hoặc ba lớp lá và lồng trong giữa các lớp lá là hình hoa lá, hay phong cảnh quê hương. Sự chỉn chu từng công đoạn và việc truyền nghề tỉ mỉ đã thấm vào đôi bàn tay người thợ, giữ lấy nghề để mưu sinh và sống được bằng nghề.

1790843445734_6245948980174999522_6245948980174999522_1cf8cfb5bcbe4090dfb46345f8b33262(1).jpg
Bà Lê Thị Trường, 70 tuổi ở thôn Vân Quật, xã Duy Nghĩa vẫn miệt mài chằm nón. Trong thôn hiện còn khoảng chục hộ vẫn giữ nghề làm nón lá. Ảnh: Hồ Thu

Đến bảo tồn và phát huy…

Hiện những người làm nghề đã vào tuổi “xưa nay hiếm”, lớp trẻ thì rất ít theo nghề nên hầu hết làng nghề nay cũng mai một và thị trường thu hẹp. Họ chỉ làm khi có người đặt hàng, hoặc làm cầm chừng, có khi vì yêu nghề, tiêng tiếc cái nghề máu thịt cả đời. Sự kế nghiệp mong manh ấy sẽ dẫn đến nguy cơ thất truyền, rơi vào sự quên lãng tên những làng nón xứ Quảng từng vang danh.

Hiện nay, nón lá tuy dần ít được phụ nữ sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày nhưng vẫn hiện diện thường xuyên trong các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch và giao lưu văn hóa. Ở các chợ truyền thống, những chiếc nón lá theo kiểu xưa cũng ít được bày bán, thay vào đó là các loại nón đa dạng hơn về chất liệu, hoa văn, màu sắc, phù hợp với nhu cầu và thị hiếu.

Nón lá trở thành một phụ kiện của phụ nữ xứ Quảng trong các buổi biểu diễn văn nghệ, chụp ảnh, các cuộc thi sắc đẹp, sự kiện… Khi kết hợp với áo dài, áo bà ba, chiếc nón càng làm tăng vẻ duyên dáng, uyển chuyển và đậm nét truyền thống.

Đặc biệt, nón lá có sức hấp dẫn không nhỏ đối với du khách quốc tế khi tham quan, trải nghiệm và chụp ảnh tại các điểm đến ở Đà Nẵng, Hội An, Mỹ Sơn, các tuyến phố, làng nghề, di tích, danh thắng… Những chiếc nón lá vì thế cũng trở thành một sản phẩm lưu niệm được nhiều du khách ưa chuộng.

Bảo tồn và phát huy những giá trị “kép” của nghề làm nón vì thế là việc cần thiết. Trước hết là phục hồi sức sống của các làng nghề, trong đó vai trò của những người “truyền nghề” đặc biệt quan trọng.

Nghề làm nón lá đang đứng trước nguy cơ mai một, nhưng vẫn còn những người thợ tài hoa âm thầm gắn bó với nghề. Điều cần thiết là tạo một “cú hích mới”, gắn nghề làm nón với du lịch cộng đồng, đồng thời để chiếc nón thích nghi linh hoạt hơn với nhu cầu sử dụng và thị trường hiện nay.

1790843445756_6245948980174999522_6245948980174999522_b6993dd1a43dd33f567279a2b6c3064c.jpg
Khung nón truyền thống xứ Quảng. Ảnh: Hồ Thu

Bên cạnh giá trị sử dụng, nón lá xứ Quảng có thể được sáng tạo về mẫu mã, trang trí, vẽ trên nón những hình ảnh đặc trưng của vùng đất như Chùa Cầu, Mỹ Sơn, Hội An, Non Nước… Khi đó, chiếc nón không chỉ là vật dụng mà còn trở thành một sản phẩm văn hóa, mang theo câu chuyện về đất và người xứ Quảng.

Các làng nghề làm nón cũng có thể trở thành những không gian đón tiếp du khách đến tham quan, tìm hiểu và trải nghiệm, từ xem người thợ chằm nón, nghe kể chuyện về nghề đến tự tay làm một chiếc nón nhỏ mang tên mình.

Xứ Quảng đã có những làng nghề thu hút du khách như làng gốm Thanh Hà, làng nghề lồng đèn Hội An, làng đá mỹ nghệ Non Nước. Nếu được tổ chức phù hợp, những làng nón cũng có thể trở thành một điểm đến trải nghiệm, để du khách không chỉ mua một sản phẩm mà còn mang về một câu chuyện, một ký ức về nghề và vùng đất.

Nhìn ra các địa phương khác, làng nón Phú Cam ở thành phố Huế, làng Chuông ở Hà Nội đã trở thành những điểm đến tham quan, trải nghiệm của du khách và học sinh.

Với xứ Quảng, những làng nón như Quế Minh, Giảng Hòa, Mỹ Xuyên Tây… cũng có thể trở thành những điểm đến học tập, du lịch và trải nghiệm nghề. Đó cũng là một cách nối dài “đường đi” của nón lá, để từ một sản phẩm của đời sống dân gian, chiếc nón tiếp tục lan tỏa những giá trị văn hóa của vùng đất và con người xứ Quảng.

Mong lắm thay, nón lá xứ Quảng hồi sinh và vươn xa…

HỒ THU