Nghị quyết của HĐND thành phố quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai và miền núi giai đoạn 2026 - 2030 tạo tiền đề để bảo đảm an toàn cho người dân trước nguy cơ sạt lở, góp phần ổn định đời sống, hướng tới phát triển bền vững.
.jpg)
Nhìn lại chặng đường triển khai chính sách hỗ trợ sắp xếp, ổn định dân cư giai đoạn 2021 - 2025 có thể thấy đây là một chủ trương đúng đắn, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn và tạo nền tảng quan trọng cho công tác bảo đảm an toàn dân cư vùng miền núi.
Thời gian qua, các địa phương đã chủ động rà soát những khu dân cư nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở, lũ quét, lũ ống; xây dựng phương án di dời phù hợp với điều kiện thực tế; đồng thời huy động nhiều nguồn lực để đầu tư các khu tái định cư, xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hỗ trợ người dân ổn định nơi ở.
Đến cuối năm 2025, toàn thành phố đã bố trí, sắp xếp ổn định nơi ở cho 3.370 hộ dân, đạt khoảng 43% mục tiêu đề ra. Đáng chú ý, riêng nhóm hộ dân sinh sống trong khu vực có nguy cơ thiên tai đã có 3.048 hộ được bố trí, vượt khoảng 130% kế hoạch ban đầu.
Hàng nghìn hộ dân được hỗ trợ xây dựng nhà ở, san lấp nền, đầu tư điện, nước sinh hoạt cùng nhiều công trình hạ tầng thiết yếu, qua đó góp phần giảm thiểu đáng kể nguy cơ thiệt hại về người và tài sản trong mùa mưa bão.
Bên cạnh kết quả đạt được, qua khảo sát thực tế và triển khai chuyên đề giám sát của Ban Dân tộc HĐND thành phố cho thấy một số tồn tại, nhất là nguồn lực đầu tư.
Theo tổng hợp của cơ quan chuyên môn, nhu cầu kinh phí thực hiện chính sách giai đoạn 2021 - 2025 lên đến gần 965 tỷ đồng, nhưng nguồn vốn được bố trí mới chỉ khoảng 343 tỷ đồng, tương đương 35,6% nhu cầu thực tế.
Khoảng cách khá lớn giữa nhu cầu và khả năng cân đối ngân sách đã khiến nhiều dự án tái định cư phải giãn tiến độ hoặc triển khai cầm chừng, ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch di dời người dân khỏi các khu vực có nguy cơ thiên tai.
.jpg)
Không chỉ thiếu vốn, nhiều địa phương còn gặp khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, chuẩn bị quỹ đất và đầu tư hạ tầng kỹ thuật.
Một thực tế khác được các đoàn giám sát ghi nhận là đến cuối năm 2025 vẫn còn hơn 4.400 hộ dân chưa được bố trí theo mục tiêu của Nghị quyết.
Nếu như những năm trước, mục tiêu cấp bách nhất là đưa người dân ra khỏi vùng nguy hiểm thì thực tiễn hiện nay lại đặt ra một yêu cầu cao hơn là sau khi di dời, người dân phải có điều kiện ổn định cuộc sống và phát triển lâu dài.
Báo cáo giám sát của Ban Dân tộc HĐND thành phố nhận định, nếu chỉ giải quyết bài toán chỗ ở mà chưa quan tâm đúng mức đến sinh kế thì mục tiêu ổn định dân cư sẽ khó bền vững. Người dân có thể có ngôi nhà kiên cố hơn nhưng vẫn phải đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống hằng ngày.
Chính vì vậy, hiệu quả của chính sách không thể chỉ được đánh giá bằng số lượng hộ đã di dời hay số khu tái định cư đã hoàn thành, mà phải được nhìn nhận từ chất lượng cuộc sống của người dân sau tái định cư.
Do đó, kết quả giám sát chuyên đề hướng tới một mục tiêu chung, chuyển trọng tâm từ hỗ trợ di dời sang ổn định cuộc sống; từ giải quyết nhu cầu trước mắt sang tạo nền tảng phát triển lâu dài; từ đầu tư đơn lẻ sang huy động tổng hợp nhiều nguồn lực để nâng cao hiệu quả của chính sách.
Phạm vi điều chỉnh được mở rộng để phù hợp với điều kiện thực tế của thành phố sau hợp nhất.
Đối tượng thụ hưởng không chỉ bao gồm các hộ dân sinh sống trong khu vực có nguy cơ sạt lở đất, lũ quét, ngập lụt hay các loại hình thiên tai khác, mà còn mở rộng đến các vùng đặc biệt khó khăn về đất sản xuất, nước sinh hoạt, cơ sở hạ tầng thiết yếu; các khu vực biên giới, hải đảo, khu kinh tế - quốc phòng; vùng dân di cư tự do có đời sống đặc biệt khó khăn và khu vực rừng đặc dụng.
.png)
Cùng với việc mở rộng đối tượng, nhiều nội dung hỗ trợ cũng được điều chỉnh theo hướng phù hợp hơn với điều kiện thực tiễn.
Cụ thể, HĐND thành phố Đà Nẵng ban hành Nghị quyết số 63/2026/NQ-HĐND ngày 29/6/2026 quy định cơ chế, chính sách hỗ trợ sắp xếp, ổn định dân cư miền núi, vùng thiên tai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, giai đoạn 2026 - 2030.
Hằng năm, ngân sách thành phố bố trí 200 tỷ đồng/năm để thực hiện Nghị quyết.
Đồng thời, lồng ghép nguồn vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035; giai đoạn 1 từ 2026 - 2030. Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 10/7/2026 đến hết ngày 31/12/2030.
Theo tờ trình của UBND thành phố, qua rà soát nhu cầu bố trí, sắp xếp dân cư vùng thiên tai trong giai đoạn 2026 - 2030, toàn thành phố có khoảng 6.282 hộ cần được bố trí ổn định tại khoảng 234 khu, điểm tái định cư tập trung, điểm xen ghép và khu ổn định tại chỗ nhằm phòng tránh thiên tai, ổn định đời sống và sản xuất lâu dài, thích ứng với biến đổi khí hậu.
Trong đó, khu vực miền núi dự kiến bố trí khoảng 117 khu, điểm với 4.474 hộ có nhu cầu sắp xếp ổn định.
Khu vực đồng bằng và trung du dự kiến có 117 khu, điểm (gồm 52 khu tái định cư tập trung và 65 điểm xen ghép) để bố trí cho khoảng 1.808 hộ.
Việc ban hành Nghị quyết là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh tình trạng sạt lở đất, sạt lở núi diễn biến phức tạp trong những năm gần đây. Chính sách nhằm đẩy nhanh tiến độ bố trí, sắp xếp dân cư tại các khu vực có nguy cơ cao, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản của người dân và tạo điều kiện ổn định sinh kế lâu dài.