Số hóa di sản nhằm góp phần vào công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá giá trị của di sản đến công chúng. Bản thân di sản cũng cần những “bản sao số” để trường tồn trong dòng chảy văn hóa.

Ra mắt vào tháng 9/2026, Bản đồ sáng tạo Hội An là nền tảng bản đồ số tích hợp thông tin về hệ sinh thái sáng tạo của địa phương, đồng thời giới thiệu các hành trình trải nghiệm kết nối du khách với làng nghề, di sản và các hoạt động sáng tạo đặc trưng...
Tại đây diễn ra nhiều hoạt động tương tác dành cho du khách như: tham quan tìm hiểu phố cổ Hội An qua công nghệ GPS, check-in bằng QR Code tại các điểm di sản... Đặc biệt có nền tảng “Xuyên Mạch Nghệ” sử dụng bản đồ số để tổ chức trải nghiệm tại hơn 20 điểm tham quan trong khu phố cổ với sự tham gia phát triển của Vietnam Map Archive.
Qua đó phố cổ Hội An trở thành một bản đồ trò chơi trên nền tảng số tại địa chỉ web https://hoiancreativecity.com/xuyenmachnghe. Du khách được chọn tuyến tham quan, nhận chỉ dẫn, đọc câu chuyện, check-in, trả lời câu hỏi và tích điểm khi tham quan.
Ông Phạm Phú Ngọc, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di sản văn hóa thế giới Hội An cho biết, thông qua công nghệ, việc số hóa những câu chuyện, một bản đồ di sản sống sẽ tạo ra hệ thống dữ liệu mới mẻ, giúp thế hệ trẻ và du khách tiếp cận, hiểu và cùng chung tay bảo tồn Hội An một cách bền vững hơn.
Còn theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng Phan Xuân Thanh, khi những câu chuyện của vùng đất di sản được ghi chép, lưu giữ cẩn thận thì việc số hóa không khó. Khi ấy, du khách có thể gặp gỡ một Hoài phố từ công nghệ thực tế ảo hay một thước phim.
Hơn 60 phế tích kiến trúc, 3 vết tích kiến trúc và hơn 2.200 hiện vật, Ban Quản lý di sản văn hóa thế giới Mỹ Sơn triển khai số hóa toàn bộ công trình đền tháp, đồng thời chọn ra một số hiện vật tiêu biểu để số hóa. Trên website https://myson360.vn/ hỗ trợ song ngữ Việt - Anh, du khách được khám phá các khu đền tháp và thông tin chi tiết qua hiệu ứng 3D.
Cùng với đó, hệ thống Mỹ Sơn Metaverse/VR 360 tích hợp MC ảo thuyết minh tổng quan cho du khách, hỗ trợ giải quyết tình trạng thiếu thuyết minh viên giờ cao điểm. Hệ thống thuyết minh tự động AudioGuide được tích cung cấp 40 câu chuyện theo lộ trình tham quan; hỗ trợ đa ngôn ngữ.

Trong khi đó, các bảo tàng trên địa bàn thành phố như Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng cũng đẩy mạnh công tác chuyển đổi số, số hóa các hiện vật, ứng dụng công nghệ rộng rãi vào công tác lưu trữ, quảng bá. Tại các địa phương, lực lượng đoàn viên thanh niên tích cực ứng dụng công nghệ số để số hóa các địa chỉ đỏ để người dân và du khách dễ dàng tìm hiểu thông tin.
Ông Huỳnh Đình Quốc Thiện, Giám đốc Bảo tàng Đà Nẵng nhìn nhận, việc số hóa di sản và hình thành “bản sao số” của di sản vừa phục vụ nghiên cứu, làm cơ sở dữ liệu để lưu trữ và bảo quản an toàn các di vật, cổ vật quý hiếm, đặc biệt ứng phó với những tình huống bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn... Bên cạnh đó, việc số hóa và quảng bá trên nền tảng số góp phần lan tỏa giá trị di sản đến công chúng.
Theo ông Thiện, số hóa ngày càng giữ vai trò quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu về di tích, hiện vật không chỉ phục vụ lưu trữ, nghiên cứu mà còn tạo điều kiện đưa những giá trị văn hóa, lịch sử đến gần hơn với công chúng thông qua các nền tảng số. Tuy nhiên, với khâu tham quan, việc đưa di sản lên nền tảng số nên được nhìn nhận ở góc độ truyền thông chứ không thể thay thế hoàn toàn trải nghiệm trực quan, “mục sở thị” của du khách khi đặt chân đến bảo tàng, di tích...

Tại Bảo tàng Đà Nẵng, hơn 2.500 hiện vật đã được số hóa. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả nguồn dữ liệu này cần phát triển phần mềm chuyên dụng có khả năng vận hành các tệp dữ liệu dung lượng lớn. Khi đó, công nghệ sẽ cho phép người xem tương tác, phóng to, thu nhỏ và quan sát hiện vật từ nhiều góc độ, góp phần đổi mới trải nghiệm tham quan và hoạt động giáo dục tại bảo tàng.
Theo ông Thiện, công tác số hóa di sản tại nhiều địa phương ở Đà Nẵng đã được quan tâm triển khai, song mức độ thực hiện còn chưa đồng đều. Nhiều nơi chủ yếu chụp ảnh 2D hoặc gắn mã QR để giới thiệu thông tin. Trong khi đó, việc xây dựng dữ liệu chuyên sâu phục vụ bảo tồn, phục dựng đòi hỏi phải ghi nhận chính xác hình dáng, kích thước, cấu trúc và từng chi tiết của di tích, hiện vật. Quy trình này cần công nghệ phù hợp, nhân lực chuyên môn và nguồn kinh phí đầu tư lớn.
Từ thực tế đó, ông Thiện cho rằng ngành văn hóa, các địa phương và bảo tàng cần tham mưu thành phố xây dựng chiến lược số hóa dài hạn, từ hoàn thiện hồ sơ, bản vẽ, tư liệu đến ghi nhận đầy đủ hiện trạng di tích, hiện vật. Cùng với đầu tư công nghệ, cần có giải pháp lưu trữ, quản lý và kết nối dữ liệu, bảo đảm nguồn tài nguyên số được khai thác hiệu quả, lâu dài.
Ông Thiện gợi mở những ví dụ về việc hình thành bản sao số của di sản, như việc quét 3D chi tiết toàn bộ di tích - ví dụ như từng nền gạch, lối đi, phù điêu, hoa văn...; khai thác, đối chiếu tư liệu, hình ảnh thực tế để nghiên cứu và phục dựng nguyên trạng các công trình, đền thờ, hiện vật khi cần. Đặc biệt hướng tới tiêu chuẩn bản sao số tỉ lệ 1:1 - đòi hỏi việc số hóa di sản phải đạt độ chính xác tuyệt đối về mặt kích thước (chiều cao, chiều ngang, độ dày, trọng lượng) của từng hiện vật.
“Số hóa di sản không chỉ nhằm quảng bá hay phát triển du lịch, mà quan trọng hơn là lưu giữ những giá trị văn hóa, lịch sử cho các thế hệ sau. Dữ liệu cần được xây dựng đầy đủ, chính xác để phục vụ nghiên cứu, bảo tồn và phục dựng khi cần thiết. Vì vậy, công tác này cần được đầu tư bài bản, có định hướng lâu dài, góp phần bảo vệ di sản trước những tác động của thời gian, thiên tai và các biến cố khác”, ông Thiện nói.