BÁO CÁO CHÍNH TRỊ
CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG KHÓA XXII TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ XXIII ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ NHIỆM KỲ 2025-2030

XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH; PHÁT HUY DÂN CHỦ, TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG, BẢN SẮC VĂN HÓA, SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN; QUYẾT TÂM XÂY DỰNG THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN ĐẠI, CHẤT LƯỢNG SỐNG CAO, TRỞ THÀNH CỰC TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM, CÙNG CẢ NƯỚC BƯỚC VÀO KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC

LTS: Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường trực Thành ủy và căn cứ Kế hoạch số 46, ngày 20/6/2025 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy về tổ chức lấy ý kiến góp ý dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Đà Nẵng khóa XXIII (nhiệm kỳ 2025 - 2030); hôm nay 31/7, Báo Đà Nẵng điện tử trân trọng đăng tải toàn văn dự thảo Báo cáo chính trị này.

Báo Đà Nẵng mong muốn nhận được ý kiến góp ý của các tầng lớp Nhân dân về những kết quả đạt được trên các lĩnh vực trong nhiệm kỳ 2020 - 2025 và quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2025 - 2030 được đề cập trong dự thảo Báo cáo chính trị, nhất là những nhiệm vụ, giải pháp trong nhiệm kỳ đến để xây dựng chính quyền địa phương hai cấp hoạt động thông suốt, hiệu quả; về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; công tác quy hoạch, phát triển hài hòa không gian kinh tế - xã hội giữa đô thị, nông thôn và miền núi; xây dựng thành phố giàu bản sắc văn hóa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân…

PHƯƠNG CHÂM ĐẠI HỘI:

ĐOÀN KẾT - KỶ CƯƠNG - ĐỘT PHÁ - PHÁT TRIỂN

Đại hội đại biểu lần thứ XXIII Đảng bộ thành phố Đà Nẵng nhiệm kỳ 2025-2030 được tiến hành vào thời điểm có ý nghĩa lịch sử đặc biệt quan trọng. Cả nước vừa hoàn thành cuộc cách mạng sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy và trải qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021-2030); Quảng Nam - Đà Nẵng tái hợp nhất sau 28 năm chia tách. Đại hội là sự kiện chính trị trọng đại, là dấu mốc quan trọng trong chặng đường phát triển mới của thành phố Đà Nẵng, hướng tới 100 năm thành lập Đảng (1930-2030), 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1945-2045), 100 năm thành lập Đảng bộ thành phố Đà Nẵng (28/3/1930 - 28/3/2030) với quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

PHẦN I

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI
NHIỆM KỲ 2020-2025

I. BỐI CẢNH, TÌNH HÌNH NHIỆM KỲ 2020-2025

Trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ thành phố Đà Nẵng và Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (viết tắt là 2 Đảng bộ)(1) có nhiều thuận lợi cơ bản từ thành tựu của đất nước sau gần 40 năm đổi mới và kế thừa thành tựu của các nhiệm kỳ trước. Kinh tế từng bước phục hồi và tăng trưởng khá sau đại dịch COVID-19; các lĩnh vực xã hội có nhiều tiến bộ; công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả; quốc phòng, an ninh được giữ vững; sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy mạnh mẽ; niềm tin của Nhân dân đối với Đảng ngày càng củng cố, tăng cường. Đặc biệt, thành phố được Trung ương quan tâm ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, tạo điều kiện để phát huy tiềm năng, lợi thế, đặc trưng riêng có của địa phương, mở rộng không gian phát triển, tạo động lực tăng trưởng mới và đột phá phát triển nhanh, bền vững trong thời gian đến.

Bên cạnh những thuận lợi, 2 Đảng bộ cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, nhanh chóng, nhiều vấn đề mới khó lường, các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng lớn. Kinh tế tăng trưởng khá nhưng quy mô còn khiêm tốn và cơ cấu chưa bền vững. Thiên tai, dịch bệnh và nhiều khó khăn mới phát sinh chưa có tiền lệ, nhất là đại dịch COVID-19, những khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện các kết luận thanh tra, bản án, kiến nghị của các cơ quan chức năng Trung ương đã ảnh hưởng, tác động rất lớn đến tình hình kinh tế - xã hội, tâm tư tình cảm của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trên địa bàn của hai địa phương.

Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam đã phát huy truyền thống đoàn kết, đồng thuận, bản lĩnh, sáng tạo, vượt qua khó khăn, khắc phục những hạn chế, khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội; chủ động tham mưu Trung ương ban hành cơ chế, chính sách đặc thù, tạo thuận lợi và động lực tăng trưởng mới; nỗ lực phấn đấu thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 của 2 Đảng bộ, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

II. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRONG NHIỆM KỲ 2020-2025

1. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được triển khai thực hiện đồng bộ, đi vào nền nếp và đạt nhiều kết quả tích cực

1.1. Xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức được chú trọng. Các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng; đổi mới phương thức, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, phát huy yếu tố tích cực của công nghệ thông tin trong tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng; tổ chức nhiều đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, qua đó kịp thời định hướng tư tưởng và dư luận xã hội trước những vụ việc nhạy cảm, phức tạp, Nhân dân quan tâm. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xây dựng văn hóa liêm chính được tăng cường, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

1.2. Xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ, đảng viên được chỉ đạo thực hiện theo đúng quy định. Cấp ủy hai địa phương chủ động tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) và triển khai quyết liệt, hiệu quả các kết luận của Trung ương về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; hoàn thành việc sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp và đưa vào vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 01/7/2025, đảm bảo tiến độ yêu cầu, được sự đồng thuận, thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Công tác cán bộ được thực hiện dân chủ, công khai, chặt chẽ, đúng quy trình theo nguyên tắc “động” và “mở”. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ gắn với chức danh và quy hoạch, sử dụng cán bộ; thực hiện tốt chế độ, chính sách cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng. Chú trọng củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên; triển khai có hiệu quả mô hình đảng bộ, chi bộ “bốn tốt”. Công tác bồi dưỡng, tạo nguồn, phát triển đảng viên đạt hiệu quả cao; trong nhiệm kỳ 2020-2025, kết nạp được gần 16.000 đảng viên.

1.3. Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng được tăng cường. Cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp nâng cao vai trò, trách nhiệm và đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực, địa bàn dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, những nơi có vấn đề nổi cộm, bức xúc, dư luận xã hội quan tâm. Xử lý kịp thời đối với những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm pháp luật, tham nhũng, tiêu cực. Tập trung khắc phục các hạn chế, khuyết điểm đã chỉ ra qua kết luận kiểm tra, giám sát của Trung ương. Công tác luân chuyển cán bộ kiểm tra các cấp sang công tác ở các ngành, các cấp và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp về làm công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được các cấp ủy đảng quan tâm đẩy mạnh.

1.4. Công tác nội chính, cải cách tư pháp, phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nhất là về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được cấp ủy hai địa phương chỉ đạo thực hiện có hiệu quả cả chiều rộng và chiều sâu. Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được tập trung lãnh đạo, thực hiện đạt nhiều kết quả. Các cơ quan tư pháp phối hợp xử lý tốt một số vụ án, vụ việc nổi cộm, phức tạp thuộc diện Ban Thường vụ, Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo; nhiều vụ án dư luận quan tâm được điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh theo quy định, được đảng viên và Nhân dân đồng tình ủng hộ. Công tác tiếp công dân, xử lý đơn, thư có nhiều chuyển biến rõ nét.

1.5. Công tác dân vận của hệ thống chính trị có nhiều đổi mới và chuyển biến mạnh mẽ. Phát huy có hiệu quả vai trò của Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, tạo sự đồng thuận cao trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Trung ương và địa phương, nhất là phòng chống đại dịch COVID-19, giải phóng mặt bằng, bố trí tái định cư; triển khai, nhân rộng nhiều cách làm hay, mô hình “Dân vận khéo” hiệu quả, thiết thực, nhất là trong công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát và các chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. Lực lượng cốt cán trong tôn giáo, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số được xây dựng và phát huy. Hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng được tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của Nhân dân.

1.6. Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Các cấp ủy, tổ chức đảng thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung Quy chế làm việc phù hợp với chủ trương, quy định của Trung ương; chủ động thành lập các ban chỉ đạo, tổ công tác để lãnh đạo, chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, góp phần nâng cao hiệu quả tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy tiến độ thực hiện các nhiệm vụ. Cấp ủy, chính quyền các cấp thực hiện tốt nhiệm vụ đối thoại trực tiếp với Nhân dân, doanh nghiệp. Các đồng chí cấp ủy viên thực hiện tốt quy định về việc dự sinh hoạt với chi bộ khu dân cư thuộc đảng bộ được phân công phụ trách và chi bộ khu dân cư nơi cư trú; kịp thời nắm bắt, phản ánh, đôn đốc việc giải quyết các vấn đề nổi lên về tư tưởng, tâm tư nguyện vọng, kiến nghị của cán bộ, đảng viên, Nhân dân và tham gia góp ý các nhiệm vụ, giải pháp tại các địa phương.

1.7. Công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan Đảng được triển khai thực hiện quyết liệt; thường xuyên rà soát quy trình, thủ tục hành chính trong Đảng theo hướng tinh gọn, sơ đồ hóa, tối ưu hóa, tạo thuận lợi, đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Chủ động cụ thể hóa thực hiện Đề án chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng theo Quyết định số 204-QĐ/TW ngày 29/11/2024 của Ban Bí thư và được Trung ương giao thí điểm nhiều ứng dụng phần mềm thuộc Đề án. Tích cực tổ chức chỉnh lý, số hóa hồ sơ, tài liệu trong các cơ quan, tổ chức; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các cuộc họp, hội nghị; triển khai hệ thống điều hành tác nghiệp trong các cơ quan Đảng, mô hình “văn phòng không giấy”, “phòng họp/hội nghị không giấy”.

1.8. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được củng cố vững chắc, dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân được phát huy

Cấp ủy luôn chú trọng các giải pháp củng cố, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tăng cường tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và các giai tầng xã hội. Các hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức chính trị - xã hội các cấp đạt kết quả tốt. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp thường xuyên tổ chức hoạt động đối thoại, hòa giải tại cơ sở, luôn tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu, điều chỉnh để giải quyết các bức xúc của Nhân dân. Đa số đoàn viên, hội viên và Nhân dân phát huy tinh thần tự quản, tự giác, hăng hái tham gia các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, góp phần thiết thực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Vai trò, vị thế và uy tín của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên được phát huy trong thực tiễn; khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân không ngừng được củng cố, tăng cường.

2. Phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, bảo vệ môi trường đạt được nhiều kết quả quan trọng, nổi bật

2.1. Kinh tế phục hồi nhanh sau đại dịch COVID-19 và đạt nhiều kết quả quan trọng

Hai địa phương triển khai quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả “mục tiêu kép”, vừa kiểm soát, khắc phục ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, vừa khôi phục, phát triển kinh tế. Mở rộng quy mô kinh tế, gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát huy vai trò của ngành dịch vụ - du lịch, khai thác tiềm năng kinh tế biển, nâng cao năng suất lao động, hiệu quả đầu tư và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tăng trưởng GRDP bình quân của thành phố Đà Nẵng đạt 6,82%/năm, tỉnh Quảng Nam đạt 4,6%/năm, tính chung hai địa phương đạt 5,8%/năm.

Khu vực dịch vụ - du lịch phục hồi tốt và phát triển khởi sắc, đóng góp lớn và dần trở thành một trong những ngành kinh tế chủ lực. Hình thành hệ thống cơ sở lưu trú, khu nghỉ dưỡng với các thương hiệu nổi tiếng quốc tế; tổ chức thành công nhiều sự kiện, lễ hội mang tầm quốc tế gắn với khai thác tiềm năng du lịch để đa dạng hóa, phát triển các sản phẩm mới. Giai đoạn 2020-2025, số lượt khách cơ sở lưu trú phục vụ của thành phố Đà Nẵng ước tăng 34%/năm, tỉnh Quảng Nam ước tăng 42%/năm; bình quân chung hai địa phương ước tăng 37%/năm.

Khu vực công nghiệp - xây dựng có sự tăng trưởng khá; giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp thành phố Đà Nẵng ước tăng 5%/năm, tỉnh Quảng Nam ước tăng 6,4%/năm; tính chung hai địa phương ước tăng 5,9%/năm. Thành phố Đà Nẵng tập trung phát triển hệ thống hạ tầng, từng bước hình thành các khu công nghệ cao, khu công nghiệp, cụm công nghiệp đồng bộ, hiện đại. Tỉnh Quảng Nam chú trọng phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai dần trở thành khu kinh tế động lực của Vùng và cả nước; phát triển khu phức hợp ô tô Chu Lai - Trường Hải có quy mô ngang tầm khu vực; tổng giá trị sản xuất công nghiệp tại Khu kinh tế mở Chu Lai chiếm trên 60% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục định hướng phát triển bền vững gắn với phục vụ du lịch, tăng năng suất, chất lượng, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất hữu cơ và tích hợp đa giá trị. Phát triển lâm nghiệp gắn với quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; thực hiện cắm mốc ranh giới rừng và cơ bản bảo vệ được rừng tự nhiên, môi trường sinh thái; phát triển rừng trồng, nâng cao chất lượng trồng rừng gỗ lớn; khuyến khích bảo tồn và phát triển một số cây dược liệu trên địa bàn. Triển khai tốt chính sách hỗ trợ đặc thù phát triển khai thác xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo. Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) phát triển về chiều sâu, bước đầu hình thành một số nhóm sản phẩm OCOP đặc trưng như sâm Ngọc Linh, quế Trà My, ba kích, đảng sâm…

Công tác quản lý, điều hành thu, chi ngân sách đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả. Thực hiện cắt giảm, tiết kiệm chi thường xuyên để đảm bảo cân đối ngân sách và bổ sung nguồn chi phòng, chống đại dịch COVID-19, thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Giai đoạn 2020-2025, tổng thu ngân sách nhà nước thành phố Đà Nẵng ước đạt 125.949 tỷ đồng, tỉnh Quảng Nam ước đạt 134.613 tỷ đồng; tính chung hai địa phương ước đạt 260.562 tỷ đồng.

Đẩy mạnh khai thác các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Tổng vốn đầu tư phát triển của thành phố Đà Nẵng ước đạt 175.124 tỷ đồng, tăng 1,3%/năm; tỉnh Quảng Nam ước đạt 189.636 tỷ đồng, tăng 10%/năm; tính bình quân hai địa phương tăng 5,6%/năm. Chủ động triển khai kịp thời, có hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết số 57-NQ/TW); ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển vi mạch bán dẫn và trí tuệ nhân tạo; thành lập Trung tâm Nghiên cứu, đào tạo thiết kế vi mạch và trí tuệ nhân tạo Đà Nẵng… nhằm tạo động lực tăng trưởng mới. Tích cực tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho nhà đầu tư hoàn thiện các thủ tục đầu tư, xây dựng để triển khai dự án, khơi thông nguồn lực cho phát triển hai địa phương.

2.2. Công tác quy hoạch, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được chú trọng, triển khai đồng bộ, hiệu quả; quản lý đô thị, tài nguyên và môi trường có nhiều chuyển biến

Về công tác quy hoạch, hai địa phương đã hoàn thành quy hoạch chung, quy hoạch thành phố, quy hoạch tỉnh và các quy hoạch phân khu đô thị, phân khu xây dựng khu chức năng, góp phần thúc đẩy tiến độ các dự án động lực, trọng điểm, liên kết vùng, tạo nền tảng phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu, xây dựng Đề án thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển khu vực đất mới trên biển tại Đà Nẵng; triển khai nhiều đề án, chương trình quan trọng trên nhiều lĩnh vực quản lý đô thị(2); triển khai Khu đô thị Đại học Đà Nẵng.

Về đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hai địa phương đã ban hành danh mục và khởi công, hoàn thành nhiều dự án, công trình động lực, trọng điểm, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thay đổi diện mạo đô thị, đáp ứng nhu cầu Nhân dân; tích cực phối hợp với các bộ, ngành Trung ương đẩy nhanh tiến độ các dự án giao thông trọng điểm như: Cảng Liên Chiểu (Phần cơ sở hạ tầng dùng chung - GĐ1); luồng cảng 50.000 tấn tại Cửa Lở; nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng; xã hội hóa đầu tư Cảng hàng không Chu Lai; Cầu Quảng Đà và đường dẫn hai đầu cầu; mở rộng cao tốc tuyến cao tốc La Sơn - Hòa Liên; tuyến cao tốc Hòa Liên - Túy Loan; Nút giao đầu tuyến cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi; đường Võ Chí Công; đầu tư, nâng cấp, cải tạo các tuyến Quốc lộ 14B, 14G, 14D, 40B... Hạ tầng công nghệ thông tin, truyền thông có bước phát triển mạnh, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu xây dựng thành phố thông minh(3).

Giải ngân vốn đầu tư công được xác định là nhiệm vụ chính trị quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của hai địa phương. Tổng kế hoạch vốn trung hạn 2020-2025 của hai địa phương là 90.290,369 tỷ đồng, trong đó: tỉnh Quảng Nam là 38.254,356 tỷ đồng và thành phố Đà Nẵng là 52.036,013 tỷ đồng. Cấp ủy hai địa phương quán triệt, quyết tâm thực hiện hiệu quả các chỉ đạo của Trung ương về giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2020-2025 và kế hoạch vốn hằng năm; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, gắn với cam kết cụ thể về kết quả giải ngân vốn đầu tư công hằng năm; thường xuyên theo dõi, kiểm tra thực tế, kịp thời chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác giải tỏa đền bù, tái định cư, bàn giao mặt bằng triển khai dự án và nguồn cung vật liệu xây dựng...

Công tác quản lý đô thị, trật tự xây dựng, tài nguyên và môi trường được thực hiện quyết liệt, có nhiều chuyển biến rõ nét. Triển khai hiệu quả Đề án xây dựng Đà Nẵng - Thành phố môi trường giai đoạn 2020-2025; hoàn thành Nhà máy nước Hòa Liên; đầu tư, nâng cấp các công trình đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt cho các hộ dân nông thôn; chủ động ban hành các phương án phòng chống, ứng phó với thiên tai, sạt lở đất; chú trọng thanh tra, kiểm tra về tài nguyên, khoáng sản; quy hoạch hệ thống xử lý nước thải tập trung tại khu vực đô thị; không để xảy ra sự cố môi trường lớn, không phát sinh cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; quan tâm bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, khu bảo tồn, di sản thiên nhiên.

3. Phát triển văn hóa, xã hội, con người được quan tâm, đầu tư tương xứng với lĩnh vực kinh tế; triển khai tốt các chương trình mục tiêu quốc gia và ban hành nhiều chính sách an sinh xã hội vượt trội, mang đậm tính nhân văn

Cấp ủy hai địa phương ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị gắn với đầu tư nguồn lực đẩy mạnh phát triển lĩnh vực văn hóa đồng bộ với kinh tế. Công tác bảo quản, tu bổ, phát huy giá trị di sản văn hóa, di tích lịch sử được quan tâm; kịp thời bố trí kinh phí đầu tư các công trình, thiết chế văn hóa với quy mô ngày càng lớn. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” được phát huy; tích cực gìn giữ các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc; chú trọng xây dựng gia đình văn hóa gắn với giáo dục giá trị đạo đức, lối sống, phòng, chống bạo lực gia đình.

Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Phát huy truyền thống khuyến học, khuyến tài, từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục theo hướng giáo dục mở, học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập; nâng cao chất lượng giáo dục mũi nhọn. Mạng lưới trường lớp khang trang, đáp ứng nhu cầu học tập. Hỗ trợ 100% học phí đối với trẻ mầm non, học sinh phổ thông, học sinh tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Cấp ủy hai địa phương đã ban hành và triển khai hiệu quả các nghị quyết, đề án về thu hút, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn.

Chất lượng hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân không ngừng được nâng cao. Hai địa phương tập trung nguồn lực gắn với đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư hoàn thiện mạng lưới y tế, cơ sở vật chất, trang thiết bị, vật tư y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh tại các tuyến, đảm bảo chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân và phòng chống dịch bệnh. Thúc đẩy việc thành lập các bệnh viện, trung tâm chuyên khoa sâu ứng dụng kỹ thuật cao từ nhiều nguồn vốn, nhất là nguồn vốn ngoài ngân sách; phát triển các dịch vụ y tế chất lượng cao; đẩy mạnh mô hình kết hợp giữa du lịch và khám chữa bệnh. Ban hành chính sách thu hút bác sĩ cho các cơ sở y tế công lập; hỗ trợ cán bộ y tế tại các cơ quan, đơn vị y tế công lập.

Các chính sách an sinh, phúc lợi xã hội mang đậm tính nhân văn được thực hiện tốt, được Nhân dân đồng tình hưởng ứng (4). Hai địa phương đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xã hội vượt trội, góp phần chăm lo cho gia đình chính sách, người có công với cách mạng, các đối tượng yếu thế trong xã hội; thực hiện tốt chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát, các giải pháp về hỗ trợ, giải quyết việc làm, các chính sách về dân tộc, tôn giáo... Đầu tư nâng cấp nghĩa trang liệt sĩ, tượng đài, các công trình ghi công liệt sĩ giai đoạn 2022-2026; ban hành cơ chế hỗ trợ kinh phí xây mộ liệt sĩ, mộ Bà mẹ Việt Nam anh hùng ngoài nghĩa trang liệt sĩ.

Các chương trình mục tiêu quốc gia được triển khai quyết liệt và đạt kết quả khả quan. Thành phố Đà Nẵng có 11/11 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đạt tỷ lệ 100%; trong đó có 3/11 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Tỉnh Quảng Nam có 133/186 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 72%; 47 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 19 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; 5 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới. Đẩy mạnh thực hiện Đề án sắp xếp, ổn định dân cư miền núi phù hợp với các định hướng phát triển kinh tế - xã hội; tăng số hộ đạt tiêu chí về nhà ở, đảm bảo phòng tránh thiên tai, ổn định đời sống, sản xuất(5). Giai đoạn 2020-2025, tổng vốn đầu tư ngân sách nhà nước khu vực miền núi hơn 7.828 tỷ đồng, chiếm 34% tổng vốn đầu tư.

4. Quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; an ninh chính trị, trật tự xã hội được bảo đảm, là điểm đến an toàn, thân thiện đối với người dân, du khách và nhà đầu tư; công tác đối ngoại, hội nhập, hợp tác quốc tế được tăng cường; liên kết phát triển vùng, hợp tác với các địa phương đạt nhiều kết quả, tạo thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện toàn diện, hiệu quả các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chú trọng xây dựng khu vực phòng thủ vững mạnh về tiềm lực, lực lượng và thế trận; lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tổ chức tốt diễn tập khu vực phòng thủ các cấp. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển quân đảm bảo chất lượng; thành lập và đưa Hải đội Dân quân thường trực đi vào hoạt động hiệu quả. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng - an ninh và đối ngoại; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, góp phần giữ vững đoàn kết quân - dân.

An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội được giữ vững ổn định, góp phần xây dựng địa phương là điểm đến an toàn, tin cậy. Tăng cường đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, nhất là tội phạm ma túy, tội phạm công nghệ cao, tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường… Quản lý tốt người nước ngoài nhập cảnh, lưu trú trên địa bàn. Chú trọng đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc gắn với nhân rộng nhiều mô hình hay về đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống tội phạm. Công tác quản lý nhà nước về trật tự đô thị, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ được duy trì tổ chức tốt. Đảm bảo tiến độ Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030; dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư”.

Công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân, hoạt động thông tin đối ngoại được đẩy mạnh trên cả ba lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa. Thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị giữa thành phố với những đối tác nước ngoài. Duy trì kết nghĩa, phát triển toàn diện mối quan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt giữa tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng với các địa phương của Lào. Tích cực gia nhập các mạng lưới, diễn đàn của khu vực và thế giới; ký kết và thực hiện tốt nhiều biên bản ghi nhớ hợp tác, hữu nghị các địa phương. Công tác ngoại giao kinh tế đã góp phần tích cực vào kết quả thu hút đầu tư, thương mại, du lịch, các nguồn viện trợ nước ngoài, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Phát huy tốt vai trò thành viên Hội đồng điều phối vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ; tích cực phối hợp với các địa phương đề xuất Trung ương xây dựng, ban hành các cơ chế, chính sách để tăng cường liên kết, phát triển vùng. Đồng thời chủ động, tích cực tham gia liên kết, phối hợp với các địa phương khác về phát triển kinh tế - xã hội.

5. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu và các nhiệm vụ đột phá theo nghị quyết nhiệm kỳ 2020-2025

5.1. Việc thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu đạt được kết quả tích cực

Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ thành phố Đà Nẵng và Đảng bộ tỉnh Quảng Nam đã tập trung lãnh đạo triển khai hoàn thành nhiều chỉ tiêu Nghị quyết quan trọng, nhất là các chỉ tiêu về xây dựng Đảng, an sinh xã hội, môi trường… Trong đó, thành phố Đà Nẵng hoàn thành 9/14 chỉ tiêu; tỉnh Quảng Nam hoàn thành 10/24 chỉ tiêu (kèm theo Phụ lục kết quả thực hiện các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 của 2 Đảng bộ).

5.2. Việc thực hiện các nhiệm vụ đột phá cơ bản hoàn thành

5.2.1. Đối với thành phố Đà Nẵng

- Nhiệm vụ 1: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh được triển khai quyết liệt, đặt ở vị trí “then chốt”, hướng mạnh về cơ sở, góp phần quan trọng ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, thống nhất, giữ vững nguyên tắc sinh hoạt Đảng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, Ban Thường vụ Thành ủy đã tổ chức Hội nghị chuyên đề, ban hành Kết luận số 366-KL/TU ngày 24/3/2023 về công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên và chỉ đạo triển khai nhiều giải pháp gắn với phân công các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy trực tiếp theo dõi, phụ trách chỉ đạo, góp phần nâng cao hiệu quả công tác phát triển đảng viên; tổng kết 10 năm thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TU ngày 06/11/2013 và ban hành Chỉ thị số 34-CT/TU ngày 27/10/2023 về “Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, không làm đúng, đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong tình hình hiện nay”.

- Nhiệm vụ 2: Kiểm soát, khắc phục ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, lấy lại đà tăng trưởng kinh tế được thực hiện với quyết tâm cao, linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả. Thành phố bám sát các chỉ đạo của Trung ương, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng lòng của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, thực hiện quyết liệt các biện pháp phòng, chống đại dịch với mục tiêu “bảo vệ sức khỏe và an toàn tính mạng của người dân là trên hết, trước hết”; thực hiện “mục tiêu kép”, vừa chủ động phòng, chống đại dịch, vừa có biện pháp “chung sống” an toàn, sớm khôi phục hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ngay khi đại dịch từng bước được kiểm soát, đã khẩn trương triển khai kế hoạch phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội, nhất là các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân.

- Nhiệm vụ 3: Thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị phát huy hiệu quả tích cực, đảm bảo dân chủ và tính chủ động trong chỉ đạo, quản lý, điều hành, được Trung ương cho áp dụng chính thức; việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù được mở rộng nội dung, phạm vi, lĩnh vực; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực đầu tư. Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy đã và đang chỉ đạo tích cực nghiên cứu, xây dựng và phối hợp với các cơ quan Trung ương tham mưu trình cấp có thẩm quyền một số cơ chế, chính sách đặc thù, các quy hoạch, đề án lớn về phát triển kinh tế - xã hội thành phố, đặc biệt là Kết luận số 79-KL/TW ngày 13/5/2024 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Kết luận số 79-KL/TW) và Nghị quyết số 136/2024/QH15 ngày 26/6/2024 của Quốc hội về tổ chức chính quyền đô thị và thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng (Nghị quyết số 136/2024/QH15). Tích cực, chủ động phối hợp tham mưu ban hành Kết luận số 77-KL/TW ngày 02/5/2024 của Bộ Chính trị về Đề án “Phương án tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố”; Nghị quyết số 170/2024/QH15 ngày 30/11/2024 của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các dự án, đất đai trong kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và tỉnh Khánh Hòa và Nghị định số 76/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết Nghị quyết số 170/2024/QH15. Đến nay, đã cơ bản giải quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho 566/1.313 trường hợp theo kiến nghị tại các kết luận thanh tra. Chủ động đề xuất, tích cực phối hợp và được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Khu Thương mại tự do Đà Nẵng; Quốc hội thông qua Nghị quyết về xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực mới có giá trị gia tăng cao.

5.2.2. Đối với tỉnh Quảng Nam

- Nhiệm vụ 1: Tích cực huy động nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ và phát triển đô thị. Giai đoạn 2020-2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội gần 189,6 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân 10%/năm, chiếm gần 30,7% GRDP. Đầu tư xây dựng một số công trình giao thông lớn, trọng điểm, mang tầm chiến lược kết nối liên vùng(6). Đầu tư hạ tầng các khu công nghiệp gắn với nhóm dự án về dịch vụ vận tải, hậu cần cảng, logistics phù hợp với định hướng phát triển Khu kinh tế mở Chu Lai. Hạ tầng thương mại - dịch vụ được đầu tư. Mạng lưới cấp điện được nâng cấp, bao phủ vùng núi, biên giới, hải đảo, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh. Điện lưới quốc gia bao phủ 100% đô thị, xã, phường, trên 99% thôn, 99,4% hộ dân có điện. Một số công trình trọng điểm trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội, y tế, môi trường được đầu tư; hạ tầng các khu, cụm công nghiệp từng bước hoàn thiện. Các hệ sinh thái công nghiệp đang dần hình thành. Tỷ lệ đô thị hóa đạt 36%.

- Nhiệm vụ 2: Chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Triển khai quyết liệt Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 12/4/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chuyển đổi số tỉnh Quảng Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Chuyển đổi số ở các cơ quan, đơn vị, địa phương đạt kết quả tốt. Hạ tầng số được quan tâm đầu tư. Triển khai có hiệu quả các chương trình, đề án, cơ chế thu hút, phát triển nguồn nhân lực, gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, phát triển thị trường lao động, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động.

- Nhiệm vụ 3: Thực hiện tốt các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Môi trường đầu tư của tỉnh được cải thiện; tập trung triển khai các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, khởi nghiệp; quyết liệt rà soát, thu hồi các dự án đầu tư kéo dài, những dự án không có khả năng thực hiện. Doanh nghiệp thành lập mới, doanh nghiệp hoạt động trở lại đạt khá. Có hơn 205 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 6,4 tỷ USD; 1.178 dự án đầu tư trong nước, tổng vốn đăng ký hơn 230 nghìn tỷ đồng, trong đó, có nhiều dự án quy mô lớn. Phong trào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phát triển mạnh; là địa phương đầu tiên trong cả nước hỗ trợ nông dân khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

* Nguyên nhân kết quả đạt được:

Nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; sự hỗ trợ, hướng dẫn của Quốc hội, Chính phủ và các ban, bộ, ngành Trung ương. Ban Chấp hành Đảng bộ nhiệm kỳ 2020-2025 đã đoàn kết, thống nhất tư tưởng, hành động; phát huy hiệu quả sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, truyền thống văn hóa, cách mạng, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường, tinh thần sáng tạo, tiên phong, đột phá, khát vọng cống hiến và phát triển. Các cấp ủy đảng, chính quyền nêu cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quyết liệt thực hiện các nhiệm vụ chính trị, nhất là ứng phó với đại dịch COVID-19 và thực hiện mục tiêu kép; ban hành, triển khai thực hiện nhiều nghị quyết chuyên đề phù hợp với tình hình thực tiễn, đạt hiệu quả thiết thực. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức đa số phát huy bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm, đổi mới, sáng tạo, thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ.

III. HẠN CHẾ, KHUYẾT ĐIỂM TRONG NHIỆM KỲ 2020-2025

1. Hạn chế, khuyết điểm

1.1. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vẫn còn có mặt chưa đáp ứng yêu cầu; một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát. Đội ngũ cán bộ, công chức, đảng viên một số nơi năng lực còn hạn chế, chất lượng chưa đồng đều; chưa phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu; cá biệt, có trường hợp cán bộ, lãnh đạo vi phạm phải xử lý kỷ luật. Công tác tự phát hiện tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong nội bộ từng cơ quan, đơn vị còn hạn chế. Cải cách hành chính, chuyển đổi số tuy có chuyển biến nhưng chưa toàn diện; một số chỉ số quan trọng về đánh giá môi trường kinh doanh như Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số Cải cách hành chính (PAR Index) giảm sút.

1.2. Một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng trong nhiệm kỳ chưa đạt kế hoạch đề ra. Quy mô kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế của địa phương. Chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược, tập đoàn, doanh nghiệp lớn. Hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo chưa có nhiều kết quả nổi bật. Công tác quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực về quy hoạch, đầu tư, đất đai, khoáng sản, trật tự xây dựng, hạ tầng xã hội còn một số bất cập, để xảy ra vi phạm; giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện song chưa đạt như kỳ vọng, chưa mang tính dẫn dắt, thúc đẩy đầu tư tư nhân; công tác giải tỏa đền bù nhiều dự án còn chậm, khó khăn, vướng mắc.

1.3. Mức hưởng thụ văn hóa còn chênh lệch, nhất là địa bàn miền núi, hải đảo. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Công tác xã hội hóa giáo dục còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu. Tình trạng thiếu giáo viên ở khu vực miền núi chưa có giải pháp khắc phục triệt để. Việc mua sắm, cung ứng thuốc, thiết bị y tế tại một số cơ sở y tế còn khó khăn, chậm khắc phục.

1.4. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự an toàn xã hội có lúc, có nơi còn hạn chế. Tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật tuy được kiểm soát, kéo giảm nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ diễn biến phức tạp. Tình hình tập trung đông người, khiếu kiện kéo dài chưa được giải quyết dứt điểm, nhất là các vụ việc liên quan đến dự án đầu tư bất động sản, gây mất an ninh trật tự tại một số cơ quan hành chính nhà nước, doanh nghiệp.

2. Nguyên nhân của hạn chế, khuyết điểm

2.1. Nguyên nhân khách quan

- Tình hình thế giới, khu vực và trong nước diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường, xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới, các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng lớn. Sự chống phá của các thế lực thù địch, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị ngày càng tinh vi. Tác động của đại dịch COVID-19 đã gây bất lợi trên nhiều các mặt đời sống kinh tế - xã hội thành phố.

- Hệ thống pháp luật còn có mặt thiếu đồng bộ, chặt chẽ. Trung ương chưa có hướng dẫn kịp thời, đồng bộ để giải quyết những khó khăn, vướng mắc trên một số lĩnh vực, nhất là về quy hoạch, đất đai, công tác mua sắm, đấu thầu thuốc, hàng hóa y tế… Cơ chế khuyến khích, thu hút nhân lực cho khu vực công còn hạn chế.

- Quy mô kinh tế của hai địa phương chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế; cơ cấu các khu vực kinh tế chưa hợp lý.

- Việc thực hiện các kết luận thanh tra, bản án, kiến nghị của kiểm toán đối với thành phố gặp nhiều vướng mắc, vượt thẩm quyền cần có chủ trương, hướng dẫn từ cấp Trung ương và nhiều việc mang yếu tố lịch sử khó giải quyết sớm, dứt điểm; dẫn đến nhiều dự án phải tạm dừng, chậm tiến độ, gây lãng phí, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, tâm lý nhà đầu tư và phát triển kinh tế - xã hội.

- Công tác thanh tra, kiểm tra, kỷ luật của cấp có thẩm quyền đối với hai địa phương trong thời gian qua ảnh hưởng đến tinh thần làm việc của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức. Chế độ, chính sách cán bộ còn một số bất cập, chưa khuyến khích và khó thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn cao, cán bộ trẻ về làm việc ở những lĩnh vực khó khăn.

2.2. Nguyên nhân chủ quan

- Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp ủy, chính quyền chưa được phát huy. Việc quán triệt, cụ thể hóa thực hiện các chủ trương, nghị quyết của cấp trên có lúc, có nơi chưa chủ động, thiếu quyết liệt, sáng tạo, chưa sát thực tiễn; việc thực hiện các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm.

- Năng lực, kinh nghiệm, trách nhiệm của người đứng đầu một số địa phương, đơn vị chưa đáp ứng yêu cầu; chưa quan tâm đúng mức đến công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số.

- Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tích cực tu dưỡng, rèn luyện và nêu gương; có tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, e ngại, không dám tham mưu. Công tác đánh giá cán bộ là khâu khó thực hiện để đảm bảo chuẩn xác; việc tự phê bình và phê bình ở một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn hạn chế.

IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Đánh giá chung

Nhiệm kỳ 2020-2025, mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, song hai Đảng bộ đã bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương, tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, tinh thần trách nhiệm, quyết tâm; huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, Nhân dân; triển khai quyết liệt, sáng tạo, linh hoạt các giải pháp thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Các chỉ tiêu, nhiệm vụ đột phá, trọng tâm trong nhiệm kỳ đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được triển khai đồng bộ, ngày càng đi vào nền nếp; phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng có nhiều đổi mới và chuyển biến mạnh mẽ. Vai trò, vị thế, uy tín của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên không ngừng được nâng lên.

Hai địa phương đã nỗ lực kiểm soát và khắc phục ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, lấy lại đà tăng trưởng kinh tế và đạt nhiều kết quả quan trọng. Đặc biệt, đã có nhiều điểm sáng trong việc chủ động, tích cực tham mưu Trung ương ban hành và cụ thể hóa thực hiện nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, chủ trương tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, góp phần khơi thông nguồn lực, mở rộng không gian phát triển; đồng thời thực hiện tốt các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; đạt nhiều giải thưởng, danh hiệu trên lĩnh vực công nghệ thông tin, chuyển đổi số, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong nhiều năm liền. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; chủ động triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia và nhiều chính sách an sinh xã hội mang đậm tính nhân văn. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; an ninh chính trị, trật tự xã hội được bảo đảm, là điểm đến an toàn, thân thiện đối với người dân, du khách và nhà đầu tư. Công tác đối ngoại, hội nhập, hợp tác quốc tế, liên kết vùng được tăng cường... Những kết quả trên đã góp phần quan trọng giúp hai địa phương thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, củng cố và tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.

2. Bài học kinh nghiệm

- Thứ nhất, thường xuyên chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, đặc biệt coi trọng việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng các cấp. Chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, công tác phát triển đảng viên. Tất cả nghị quyết, chủ trương của Đảng bộ phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, có tầm nhìn chiến lược, đảm bảo khả thi và đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

- Thứ hai, giữ vững và phát huy khối đoàn kết, thống nhất trong toàn hệ thống chính trị; phát huy tinh thần trách nhiệm, ý chí tự lực, tự cường và truyền thống yêu nước, nhân văn, trung dũng, kiên cường của con người Quảng Nam - Đà Nẵng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu các cấp, có phẩm chất đạo đức, năng lực thực tiễn, bản lĩnh chính trị vững vàng và khát vọng cống hiến, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

- Thứ ba, tạo dựng và duy trì sự đồng thuận xã hội trên nền tảng niềm tin, đối thoại và lắng nghe; lấy Nhân dân làm trung tâm, chủ thể, động lực và mục tiêu của sự phát triển; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo cho hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Tăng cường phối hợp, liên kết vùng và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với mục tiêu phát triển bền vững của địa phương.

- Thứ tư, phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, bám sát thực tiễn, nâng cao năng lực phân tích, đánh giá và dự báo tình hình. Kịp thời phát hiện các vấn đề phát sinh; thực hiện phương châm “làm đến đâu, chắc đến đó, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, vừa hoàn thiện” để đề ra giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn, xử lý nút thắt. Kiên quyết chấn chỉnh, kịp thời ngăn chặn, xử lý sai phạm, những biểu hiện lệch lạc, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, nói không đi đôi với làm.

- Thứ năm, xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, chọn đúng khâu đột phá để huy động nguồn lực và tổ chức thực hiện với quyết tâm chính trị lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả. Kiên trì đổi mới, nghiên cứu, mạnh dạn đề xuất các cơ chế, chính sách mới, đặc thù, mang tính đột phá; tranh thủ tối đa sự quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện của Trung ương trong việc xây dựng, thí điểm và thể chế hóa các chính sách phát triển phù hợp với đặc thù của địa phương.

PHẦN II

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP NHIỆM KỲ 2025-2030

I. DỰ BÁO, BỐI CẢNH TÌNH HÌNH NHIỆM KỲ 2025-2030

Những năm đến, dự báo tình hình thế giới và khu vực sẽ tiếp tục diễn biến nhanh chóng, khó đoán định. Các mối đe dọa an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng lớn. Xu hướng dịch chuyển vốn đầu tư, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự phát triển của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, thiên tai, dịch bệnh... tiếp tục tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực, sự ổn định, phát triển bền vững của thế giới, khu vực, đất nước và thành phố.

Ở trong nước, sau 40 năm đổi mới, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ngày càng nâng cao và phát huy hiệu quả. Cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước tiếp tục được nâng lên, là tiền đề quan trọng để xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc, hướng đến mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước. Cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả; cải cách thể chế, phát triển khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển kinh tế tư nhân và đẩy nhanh hội nhập quốc tế là đòn bẩy đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Đối với thành phố Đà Nẵng sau hợp nhất có nhiều thời cơ, vận hội và dư địa để phát triển, nhất là cùng chung các giá trị về truyền thống, văn hóa, lịch sử lâu đời, con người nhân văn; được thừa hưởng các cơ chế, chính sách đặc thù tạo động lực tăng trưởng mới; là địa phương được Trung ương đặt kỳ vọng rất lớn với định hướng trở thành một cực tăng trưởng của Việt Nam, có năng lực cạnh tranh cao của khu vực châu Á - Thái Bình Dương, có vai trò tiên phong, dẫn dắt các địa phương trong quá trình phát triển hiện đại, là “trung tâm đổi mới, sáng tạo, công nghệ cao và khởi nghiệp quốc gia”, tiên phong trong các lĩnh vực mới như: kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế biển… Tuy nhiên, thành phố cũng sẽ đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những vướng mắc, tồn tại chưa được tháo gỡ, những khó khăn trong giai đoạn đầu sắp xếp, hợp nhất địa giới hành chính, vận hành chính quyền địa phương hai cấp, chất lượng một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới, đời sống Nhân dân một số vùng còn nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh luôn thường trực... Đây là những vấn đề, yêu cầu đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố trong thời gian đến.

II. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

Phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. Phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa truyền thống, ý chí tự lực, tự cường, khơi dậy khát vọng xây dựng quê hương phồn vinh, hạnh phúc. Phát triển với tư duy, tầm nhìn chiến lược, dài hạn, tạo khâu đột phá; đổi mới mô hình tăng trưởng, lấy đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt, động lực chính.

Phát triển kinh tế - xã hội thành phố giai đoạn 2025-2030 phù hợp với Chiến lược phát triển phát triển kinh tế - xã hội đất nước giai đoạn 2021-2030, kế hoạch phát triển ngành quốc gia, kế hoạch phát triển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung; theo định hướng phát triển kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế biển. Phát triển hạ tầng kỹ thuật đồng bộ; quản trị, điều hành thông minh. Phát triển kinh tế hài hòa với phát triển văn hóa, xã hội, bảo tồn di sản, bảo vệ môi trường, gắn với giữ vững quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển đảo; quan tâm đầu tư phát triển vùng nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số; xây dựng đô thị sinh thái, hiện đại và thành phố đáng sống.

III. MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU

1. Mục tiêu tổng quát đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

* Định hướng đến năm 2030: Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; chính quyền số, đô thị thông minh, nền hành chính hiện đại. Phát huy dân chủ, truyền thống cách mạng, bản sắc văn hóa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, phát huy tối đa các nguồn lực đầu tư, đưa thành phố trở thành cực tăng trưởng của Việt Nam; là địa phương tiên phong phát triển khoa học, công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trung tâm văn hóa - thể thao, giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao, điểm đến hấp dẫn của thế giới. Giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và chủ quyền biên giới, biển, đảo. Tăng cường công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế. Xây dựng thành phố hiện đại, giàu bản sắc, con người Đà Nẵng nhân văn, có chất lượng cuộc sống cao, cùng cả nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

* Tầm nhìn đến năm 2045: Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị sinh thái và thông minh, là trung tâm thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm công nghiệp, logistics, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo và thành phố du lịch, đáng sống, đẳng cấp khu vực châu Á.

2. Chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2030

(1) Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hằng năm trong nhiệm kỳ 2025-2030 phấn đấu đạt từ 3-4% tổng số đảng viên; hằng năm có trên 90% tổ chức cơ sở đảng, đảng viên được đánh giá, xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

(2) Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP, giá so sánh 2010) giai đoạn 2026-2030 đạt bình quân 11%/năm trở lên.

(3) Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn theo giá hiện hành giai đoạn 2026-2030 ước đạt hơn 680 nghìn tỷ đồng, ước tăng bình quân 15-16%/năm.

(4) Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước tăng 7-8%/năm.

(5) GRDP bình quân đầu người (USD) ước đạt 7.800-8.000 USD/người.

(6) Tốc độ tăng dân số ước tăng 1,5-1,7%/năm.

(7) Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo ước đạt 45,6%/năm.

(8) Số giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 70,3 giường bệnh/năm. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế so với dân số ước đạt 95%; tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội ước đạt 46,5%.

(9) Tỷ lệ nghèo đa chiều ước còn 2,66%, trong đó khu vực thành thị ước còn 0,74%, khu vực nông thôn ước còn 4,86%.

(10) Tỷ lệ xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới ước đạt 75,7%, trong đó tỷ lệ xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao ước đạt 45,3%, tỷ lệ xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu ước đạt 11,3%.

(11) Tỷ lệ đô thị hóa ước đạt 63,7%.

(12) Tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung ước đạt 100%; tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn ước đạt 80%.

(14) Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn ước đạt 100%.

(13) Tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 58,06%.

(15) 100% phường, xã đạt cơ sở vững mạnh toàn diện về quốc phòng, an ninh.

IV. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

1. Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện; xây dựng Đảng thật sự “là đạo đức, là văn minh”, chính quyền địa phương hai cấp hoạt động thông suốt, hiệu quả, tiên phong trong đổi mới và phát triển

Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo hướng khoa học, dân chủ, hiệu quả, thiết thực, sát thực tiễn, không bao biện, làm thay hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng; giữ vững các nguyên tắc sinh hoạt Đảng, đảm bảo sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ. Ban hành và triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng theo hướng đồng bộ, trọng tâm, sát thực tiễn và tính khả thi cao, nhất là các nghị quyết đột phá của Trung ương đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới(7). Phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo các cấp. Xây dựng các cơ quan của Đảng thực sự là hạt nhân trí tuệ trong công tác tham mưu; khẳng định vai trò tiên phong chuyển đổi số và cải cách hành chính.

Xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức. Kiên định lập trường chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nghị quyết, quy định của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư và các quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng, kiểm soát quyền lực, nêu gương của cán bộ, đảng viên, phát huy truyền thống cách mạng, yêu quê hương, đất nước… Thực hiện tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Ban hành Nghị quyết về công tác chính trị, tư tưởng trong tình hình mới; Đề án tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân giai đoạn 2025-2030.

Thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng về tổ chức, cán bộ, đảng viên. Tổng kết thực tiễn, ban hành Nghị quyết về công tác cán bộ gắn với mô hình quản trị mới; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn cao, thực sự là trung tâm đổi mới, đảm bảo tính Đảng, tính quần chúng, gắn bó và là người lan tỏa niềm tin trong Nhân dân. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và xây dựng đề án đào tạo, thu hút, trọng dụng nhân tài; thường xuyên bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ cấp cơ sở, người dân tộc thiểu số; tạo môi trường, điều kiện thúc đẩy, khuyến khích cán bộ đổi mới, sáng tạo gắn với cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Triển khai có hiệu quả mô hình “chi bộ bốn tốt”, “đảng bộ cơ sở bốn tốt”. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chính sách cán bộ. Tạo nguồn, phát triển đảng viên đảm bảo số lượng và chất lượng. Ban hành chính sách hỗ trợ việc thành lập tổ chức đảng, tổ chức chính trị - xã hội và hoạt động cho đội ngũ cấp ủy viên dưới cơ sở trong doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình kiểm tra, giám sát toàn khóa, hằng năm có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những nội dung, lĩnh vực dễ phát sinh vi phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát theo hướng hiện đại hóa, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số toàn diện trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; xây dựng hệ thống dữ liệu đồng bộ để hướng đến thực hiện “giám sát trên dữ liệu, kiểm tra trên dữ liệu”; chủ động, tăng cường phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa; xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp đảm bảo số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; thực hiện tốt công tác luân chuyển, điều động cán bộ lãnh đạo, quản lý các ngành, các cấp về làm công tác kiểm tra, giám sát và luân chuyển lãnh đạo ủy ban kiểm tra các cấp sang công tác ở các ngành, các cấp để đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ.

Thực hiện tốt công tác nội chính, cải cách tư pháp; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Quán triệt, cụ thể hóa thực hiện tốt Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, hiệu quả thi hành pháp luật nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, kiểm soát quyền lực, nhất là trong công tác cán bộ, kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công; thực hiện đồng bộ phương châm “4 không: không thể, không dám, không muốn, không cần” trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phấn đấu 100% các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy, Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thành phố theo dõi, chỉ đạo được điều tra, truy tố, xét xử đúng thời gian cam kết theo phương châm “rõ đến đâu, xử lý đến đó”; thu hồi trên 55% số tài sản do tội phạm tham nhũng mà có trên tổng số có điều kiện thi hành.

Tăng cường công tác dân vận với phương châm “Chủ động, đổi mới, trách nhiệm, thực chất”; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng. Thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng về công tác dân vận, dân tộc, tôn giáo và dân chủ ở cơ sở; gắn kết chặt chẽ công tác dân vận của hệ thống chính trị với thực hiện nhiệm vụ chính trị, gần dân, trọng dân, có trách nhiệm với Nhân dân, lấy niềm tin, hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Tập trung nghiên cứu cụ thể hóa, cơ chế hóa “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” thành các quy định, quy chế cụ thể. Ban hành Nghị quyết chuyên đề về nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động trong tình hình mới; Đề án thay đổi “Nếp nghĩ, cách làm” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; Đề án nhân rộng các mô hình điển hình “Dân vận khéo”.

Tiếp tục hoàn thiện, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và đảm bảo phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi, phù hợp với thực tiễn địa phương. Phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn giữa thành phố và cấp xã; tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường kiểm tra, giám sát theo phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Đổi mới phương thức hoạt động của hội đồng nhân dân, thường trực hội đồng nhân dân, các ban của hội đồng nhân dân các cấp, đảm bảo chất lượng, chuyên nghiệp, hiệu quả. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, hiện đại hóa hạ tầng phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo. Nâng cấp hệ thống Trung tâm tích hợp dữ liệu Thành ủy đạt chuẩn; xây dựng Kiến trúc chuyển đổi số thống nhất trong các cơ quan Đảng; tiếp nhận, triển khai hiệu quả các phần mềm, ứng dụng do Trung ương Đảng chuyển giao. Triển khai mô hình “Chính quyền số - Đô thị thông minh - Nền hành chính hiện đại”, lấy mục tiêu phục vụ người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Phát huy hiệu quả trung tâm phục vụ hành chính công thành phố; đẩy mạnh cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, giảm tối đa rủi ro pháp lý, chi phí tuân thủ, giảm phiền hà, sách nhiễu người dân, doanh nghiệp; đưa hoạt động chỉ đạo, điều hành của thành phố lên môi trường điện tử, dựa trên dữ liệu.

Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn thành phố. Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương của cấp ủy, chính quyền phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình; nghiêm túc tiếp thu và kịp thời giải quyết các ý kiến phản ảnh, kiến nghị chính đáng của Nhân dân. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương xã hội; tăng cường sự đồng thuận xã hội gắn với đề cao ý thức trách nhiệm của công dân; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền làm chủ của Nhân dân, lợi dụng dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước, làm mất ổn định chính trị - xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích; đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong việc tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, thực sự là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc trong công tác bầu cử và giám sát việc thực hiện Chương trình hành động của đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp; tăng cường giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; giám sát trách nhiệm người đứng đầu trong phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình Nhân dân; chăm lo, xây dựng và phát triển các giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội phù hợp với yêu cầu, định hướng phát triển của thành phố.

2. Phát huy tiềm năng, lợi thế gắn với đẩy mạnh tái cấu trúc kinh tế; thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tạo đột phá phát triển nhanh, bền vững

2.1. Phát huy tiềm năng, lợi thế gắn với đẩy mạnh tái cấu trúc kinh tế thành phố, tạo đột phá phát triển nhanh, bền vững

Tiếp tục quán triệt, thực hiện có hiệu quả các chủ trương, định hướng của Trung ương về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng, nhất là Kết luận số 79-KL/TW, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong chuyến thăm, làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng và Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam; các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng, nhất là về quản lý đầu tư, tài chính, ngân sách, quy hoạch, đô thị, tài nguyên, môi trường, thu hút nhà đầu tư chiến lược, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chip vi mạch, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo... Chủ động tận dụng thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; tiên phong phát triển các mô hình kinh tế mới như: kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, kinh tế biển, kinh tế tri thức, kinh tế chia sẻ, kinh tế đêm.

Tập trung quy hoạch, dành nguồn lực đầu tư theo định hướng không gian phát triển thành phố thành 2 vùng Đông và Tây(8), trọng tâm là đẩy mạnh tái cấu trúc, thúc đẩy đầu tư phát triển 6 lĩnh vực mũi nhọn, gắn với 6 động lực tăng trưởng:

(1) Phát triển du lịch, dịch vụ chất lượng cao, gắn với bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống cách mạng, di sản văn hóa, là điểm đến hấp dẫn của thế giới. Phát triển Khu thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế. Xây dựng thương hiệu du lịch Đà Nẵng gắn với dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh chất lượng cao, bất động sản nghỉ dưỡng đẳng cấp quốc tế; hình thành các trung tâm du lịch cao cấp, kết hợp tham quan, giải trí; tổ chức các hội nghị, sự kiện lễ hội mang tầm quốc tế. Đầu tư hệ thống sản phẩm du lịch mới theo các nhóm sản phẩm chính và đặc trưng; phát triển Khu du lịch quốc gia Sơn Trà; chuyển đổi cảng Tiên Sa sau năm 2030 thành cảng du lịch, bến du thuyền; xây dựng trung tâm vui chơi giải trí, mua sắm tầm cỡ quốc tế... Phát triển du lịch văn hóa, lịch sử, di sản chất lượng cao trên cơ sở phát huy tối đa giá trị di sản văn hóa thế giới là Đô thị cổ Hội An, Khu đền tháp Mỹ Sơn, Khu ủy khu 5, Địa đạo Kỳ Anh và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm - Hội An…; hoàn thành tuyến du lịch đường sông Cổ Cò - Trường Giang nối với sông Thu Bồn đến điểm du lịch Hòn Kẽm Đá Dừng; liên kết các khu vực Hội An - Mỹ Sơn - Cù Lao Chàm - Bà Nà - Sơn Trà - Ngũ Hành Sơn, khu vực ven sông Hàn và ven biển để hình thành chuỗi điểm đến cao cấp, đẳng cấp quốc tế; quy hoạch, khai thác phát triển du lịch hòn Sơn Chà gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Đẩy mạnh phát triển du lịch nông nghiệp, nông thôn gắn với văn hóa bản địa và trải nghiệm sinh thái. Xây dựng mô hình du lịch cộng đồng, làng nghề truyền thống và trang trại nông nghiệp thông minh; khuyến khích phát triển mô hình kinh tế rừng - dược liệu - du lịch sinh thái, cộng đồng tại các vùng có điều kiện. Giai đoạn 2026-2030, phấn đấu tốc độ tăng trưởng doanh thu lưu trú, lữ hành, ăn uống khoảng 18-19%/năm; tốc độ tăng bình quân tổng lượt khách do cơ sở lưu trú phục vụ khoảng 11-12%/năm.

(2) Phát triển dịch vụ logistics gắn với đầu tư đồng bộ hệ thống cảng hàng không, cảng biển, khu kinh tế, cửa khẩu quốc tế. Xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm thương mại lớn với hạ tầng và hệ thống phân phối đồng bộ, hiện đại; trung tâm logistics, vận tải đa phương thức; trung tâm phân luồng hàng hóa của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước. Hình thành, phát triển khu phi thế quan, khu công nghiệp gắn với hệ thống Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng, Cảng hàng không Chu Lai, Cảng Liên Chiểu và hệ thống cảng biển Tiên Sa, Kỳ Hà, Tam Hiệp - Tam Hòa; phát triển Cảng Chu Lai gắn với Trung tâm logistics container và Trung tâm logistics tại Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Nam Giang kết nối hàng hóa khu vực Trung - Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan. Phấn đấu đến năm 2030, cụm ngành logistics chiếm khoảng 15% GRDP toàn thành phố. Phát triển sàn giao dịch thương mại điện tử; thanh toán không dùng tiền mặt và các phương tiện, hình thức thanh toán hiện đại; phấn đấu tỷ trọng bán lẻ hàng hóa qua hệ thống phân phối hiện đại đạt tối thiểu 65%; tốc độ tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa bình quân 11-12%/năm; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng bình quân 5,6% năm. Phát triển các sản phẩm, dịch vụ tài chính trên nền tảng ứng dụng công nghệ tự động hóa, kết nối đa chiều và thông minh hóa, đảm bảo an ninh, an toàn. Thường xuyên, quyết liệt đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

(3) Phát triển công nghiệp công nghệ cao, nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ theo mô hình xanh, bền vững, sản phẩm cơ khí, điện, điện tử theo hướng kinh tế tuần hoàn, gắn với việc đẩy nhanh triển khai thực hiện các khu công nghiệp sinh thái và các cụm công nghiệp, nghiên cứu phát triển ngành công nghiệp Halal. Triển khai có hiệu quả Kế hoạch liên kết Khu kinh tế mở Chu Lai với Khu kinh tế Dung Quất để hình thành Trung tâm công nghiệp ven biển trọng điểm của khu vực… Xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm công nghiệp hỗ trợ ô tô và cơ khí đa dụng quốc gia, trung tâm công nghiệp chế biến sâu sản phẩm từ silica khu vực miền Trung. Xây dựng Đề án thí điểm cơ chế hợp tác liên kết sản xuất cụm ngành công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp cơ khí tại Khu kinh tế mở Chu Lai. Phát triển bền vững công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng. Phấn đấu Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 5-6%/năm; phát triển khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm tỷ trọng khoảng 28-30% cơ cấu GRDP.

(4) Phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông, công nghiệp vi mạch bán dẫn gắn với nền kinh tế số, công nghiệp năng lượng, năng lượng tái tạo. Hình thành các khu công nghệ thông tin tập trung và chuỗi khu công viên phần mềm, các doanh nghiệp công nghệ số có năng lực cạnh tranh toàn cầu, tạo sự liên kết trong nghiên cứu làm chủ công nghệ và sản xuất sản phẩm công nghệ số; phấn đấu tốc độ tăng trưởng doanh thu toàn ngành hằng năm gấp 2-3 lần tốc độ tăng trưởng GRDP thành phố. Nghiên cứu phát triển Khu công viên phần mềm tại Tam Kỳ. Xúc tiến đầu tư trạm cáp quang quốc tế tại Đà Nẵng và kết nối thêm ít nhất 01 tuyến cáp quang biển quốc tế cập bờ vào Đà Nẵng. Tập trung phát triển dự án Tua bin khí hỗn hợp miền Trung I. II gắn với các ngành công nghiệp sử dụng năng lượng và sản phẩm sau khí tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tạo động lực phát triển mới cho phía Nam của Thành phố và Vùng; đồng thời, đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời, điện sinh khối, điện rác…), năng lượng mới, năng lượng sạch… Quy hoạch, huy động nguồn lực đầu tư hạ tầng, đảm bảo nguồn điện cung cấp cho các dự án công nghệ cao, lĩnh vực vi mạch, bán dẫn...

(5) Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, lâm nghiệp và các khu công nghiệp chế biến sâu ngành dược liệu; phát triển kinh tế biển, xây dựng trung tâm nghề cá hiện đại phục vụ khai thác thủy hải sản gắn với ngư trường Hoàng Sa và bảo vệ an ninh, chủ quyền biển, đảo. Cơ cấu lại lĩnh vực sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh, tạo sản phẩm chủ lực, đặc trưng, hữu cơ, tích hợp đa giá trị, an toàn thực phẩm và phục vụ du lịch. Phát triển các khu, vùng nông nghiệp công nghệ cao. Thực hiện hiệu quả Đề án Mỗi xã một sản phẩm (OCOP); phát triển kinh tế nông thôn gắn với du lịch sinh thái, trải nghiệm. Khai thác hải sản xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo, kết hợp bảo vệ môi trường biển; thực hiện nghiêm túc các quy định về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU). Nghiên cứu, triển khai quy hoạch trung tâm nghề cá lớn Đà Nẵng gắn với ngư trường biển Đông và Hoàng Sa, trở thành trung tâm dịch vụ nghề cá của khu vực; phấn đấu sản lượng thủy sản đạt 165.000-170.000 tấn/năm, trong đó khai thác chiếm 65-70%, nuôi trồng chiếm 25-30%. Hoàn thành rà soát, điều chỉnh quy hoạch, cắm mốc ranh giới quy hoạch 3 loại rừng, gắn với quản lý, bảo vệ rừng. Phát triển các loại cây dược liệu dưới tán rừng với sâm Ngọc Linh là sản phẩm chủ lực, cây quế là cây đặc hữu; xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm chế biến dược liệu quốc gia; bảo tồn và phát triển các loại cây dược liệu đặc hữu, với trọng tâm là các sản phẩm OCOP đặc trưng vùng cao như sâm Ngọc Linh, quế Trà My, đảng sâm, ba kích; phát triển khu dự trữ thiên nhiên lim xanh, kiền kiền, pơmu... Nâng cao năng lực quản lý về thủy lợi, đê điều, đảm bảo an toàn hồ chứa, nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất.

(6) Đầu tư xây dựng, hình thành chuỗi đô thị ven biển, các khu đô thị mới, xanh có quy mô lớn, hiện đại, thông minh tại vùng Đông và phát triển đô thị trên vịnh, biển Đà Nẵng. Từ phía Nam đèo Hải Vân đến phía Bắc sông Thu Bồn ưu tiên phát triển các lĩnh vực du lịch, dịch vụ thương mại, tài chính, vận tải hành khách - logistics gắn với cảng biển và sân bay quốc tế, công nghiệp công nghệ cao. Hình thành và phát triển hạ tầng đô thị khu vực phía Nam sông Thu Bồn gắn với phát triển Đặc khu Hoàng Sa, Cù Lao Chàm, Tam Hải theo hướng phát triển du lịch nghỉ dưỡng đẳng cấp quốc tế, kết hợp đẩy mạnh khai thác tiềm năng phát triển kinh tế biển. Khu vực Tam Kỳ - Núi Thành ưu tiên phát triển các lĩnh vực công nghiệp, vận tải (hàng hóa) - logicstics gắn với cảng biển và sân bay Chu Lai.

2.2. Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp quản lý ngân sách ổn định, bền vững; thúc đẩy đầu tư công

Tăng cường công tác quản lý thu, chống thất thu, gian lận thuế, gian lận thương mại, gắn với khai thác và nuôi dưỡng nguồn thu; phấn đấu thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 7-8%/năm. Tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách; điều hành chi ngân sách chặt chẽ, hiệu quả, phù hợp với tiến độ thu ngân sách. Quản lý chặt chẽ và khai thác có hiệu quả, bền vững nguồn lực tài chính từ đất đai để tập trung vốn đầu tư những dự án cấp bách, trọng điểm; có phương án quản lý, sử dụng hiệu quả tài sản công, tài sản, trụ sở sau sắp xếp.

Chủ động làm việc với Trung ương đảm bảo các cơ chế tạo nguồn lực cho đầu tư, ổn định tỷ lệ điều tiết, xác định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách thành phố trong thời kỳ ổn định ngân sách mới, trần huy động vốn vay so với tổng thu ngân sách địa phương được hưởng… Sử dụng hiệu quả nguồn lực thực hiện cải cách tiền lương còn dư (nếu có), nguồn quỹ dự trữ tài chính và các nguồn khác để đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Nghiên cứu phương án vay vốn ưu đãi các tổ chức tài chính, phát hành trái phiếu chính quyền địa phương trong khả năng và điều kiện của thành phố trong trường hợp không đáp ứng được nguồn lực cho đầu tư phát triển. Hoàn thiện, đơn giản hóa thủ tục hành chính, gắn với nâng cao năng lực của các chủ đầu tư, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thực hiện các thủ tục đầu tư, đền bù giải tỏa, triển khai dự án nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công.

2.3. Thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng nhất của nền kinh tế

Khuyến khích, hỗ trợ và định hướng phát triển khu vực kinh tế tư nhân thực chất, là chiến lược, chính sách lâu dài, tạo động lực phát triển quan trọng nhất theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị. Tập trung tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, tín dụng, công nghệ, thị trường; tăng cường đối thoại, gặp gỡ và hỗ trợ nhà đầu tư, doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); tích cực hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hộ, kinh tế hợp tác. Đổi mới, đa dạng hóa các hoạt động xúc tiến, hỗ trợ đầu tư; tập trung thu hút các tập đoàn kinh tế tư nhân, các dựa án ODA, FDI, dự án đầu tư trong nước có quy mô lớn, nhà đầu tư tiềm lực, thương hiệu mạnh về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, các lĩnh vực công nghệ cao, vi mạch bán dẫn, công nghệ thông tin…, các nhà đầu tư, doanh nghiệp lớn trong nước mang tính động lực, có tác động lan tỏa đến phát triển kinh tế - xã hội.

Nâng cao chất lượng các quy hoạch, tạo quỹ đất sạch phục vụ thu hút đầu tư, gắn với hoàn thành việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc theo Đề án “Phương án tháo gỡ khó khăn, vướng mắc liên quan đến các dự án, đất đai trong các kết luận thanh tra, kiểm tra, bản án tại một số tỉnh, thành phố”. Đẩy mạnh thu hút các dự án/nhà đầu tư PPP, nhà đầu tư chiến lược tại Khu Thương mại tự do, Trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng. Kêu gọi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư khu công nghiệp chế biến dược liệu, kết hợp nghiên cứu phát triển, xây dựng thương hiệu dược liệu đạt chuẩn quốc tế.

3. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội

Xây dựng và triển khai Kế hoạch đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2045. Hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW. Rà soát, xây dựng, sửa đổi, đề xuất bổ sung các quy định, chính sách ưu đãi đối với hoạt động nghiên cứu - phát triển (R&D), ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, nhất là các công nghệ mới của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, công nghệ sinh học, Internet vạn vật, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, chuỗi khối... Triển khai có hiệu quả cơ chế thử nghiệm có kiểm soát các giải pháp công nghệ mới (sandbox), xem xét ưu tiên một số lĩnh vực Blockchain, công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo, robot và tự động hóa, tài sản số... phù hợp với nhu cầu, định hướng phát triển và khả năng kiểm soát của thành phố. Ban hành quy định về tổ chức bộ máy, chế độ đãi ngộ đặc thù, tạo động lực mạnh mẽ cho đội ngũ cán bộ, chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ưu tiên nguồn lực, hợp tác quốc tế về đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, nhất là dự án Phòng lab phục vụ nghiên cứu, đào tạo trí tuệ nhân tạo, Phòng thí nghiệm kết hợp sản xuất quy mô nhỏ công nghệ đóng gói tiên tiến vi mạch bán dẫn Lab-Fab, dự án Không gian đổi mới sáng tạo Đà Nẵng…

Đẩy mạnh phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với sự tham gia tích cực của các doanh nghiệp, dự án công nghệ, cơ sở ươm tạo, trường đại học, viện nghiên cứu, nhà đầu tư, mạng lưới chuyên gia khởi nghiệp và các cơ quan nhà nước liên quan; phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ sớm thành lập Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo quốc gia tại Đà Nẵng theo Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị; thành lập Văn phòng Hiệp hội khởi nghiệp quốc gia khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Nghiên cứu triển khai khu chức năng công nghiệp công nghệ số và đổi mới sáng tạo thuộc Khu thương mại tự do Đà Nẵng; các giải pháp công nghệ, công nghệ tài chính trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng. Rà soát, đánh giá, bổ sung chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp tiếp cận thị trường. Đẩy mạnh thu hút, tăng nhanh số lượng chuyên gia tư vấn về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, nhất là các lĩnh vực mũi nhọn, thế mạnh, tiềm năng của thành phố.

Xây dựng Đề án Chuyển đổi số góp phần thúc đẩy, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội thành phố giai đoạn 2026-2030, định hướng năm 2035; đi đầu trong xây dựng mô hình quản trị đô thị thông minh và chuyển đổi số toàn diện, xây dựng chính quyền số, xã hội số, công dân số; hoàn thành xây dựng đô thị thông minh kết nối đồng bộ với mạng lưới đô thị thông minh trong nước và khu vực ASEAN vào năm 2030. Phát triển hạ tầng viễn thông, công nghệ thông tin, các dịch vụ đô thị thông minh; cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, dịch vụ công ích với công nghệ hiện đại, chất lượng cao; thí điểm, nhân rộng các mô hình về chuyển đổi số để phát triển y tế, giáo dục và các ngành, lĩnh vực sản xuất mới. Hoàn thành việc tích hợp, liên thông các cơ sở dữ liệu quốc gia và địa phương, bảo đảm tính “đúng, đủ, sạch, sống” của dữ liệu; nâng cấp, mở rộng Trung tâm dữ liệu thành phố, thu hút đầu tư trung tâm dữ liệu thông minh. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong doanh nghiệp; xây dựng chính sách hỗ trợ chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, cơ sở sản xuất cá thể trong lĩnh vực công nghiệp; triển khai các mô hình nhà máy thông minh, tự động hóa, sản xuất thông minh; Phát triển nhân lực có kiến thức, kỹ năng số để thúc đẩy lực lượng sản xuất. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế số/chuyển đổi số bình quân 10%/năm.

4. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, phát triển hài hòa không gian kinh tế - xã hội giữa đô thị, nông thôn và miền núi; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; quản lý, khai thác có hiệu quả tài nguyên và môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu

Rà soát, khớp nối quy hoạch đảm bảo phát triển đồng bộ, hài hòa, khai thác có hiệu quả tiềm năng của vùng Đông, vùng Tây và từng khu vực; xác định trục không gian động lực Đà Nẵng - Hội An - Tam Kỳ là trục “xương sống” phát triển. Lập Quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch quốc gia Cù Lao Chàm; điều chỉnh Quy hoạch Khu kinh tế mở Chu Lai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050; điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Nam Giang.

Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ các công trình động lực, trọng điểm giai đoạn 2025-2030; xây dựng Cảng Liên Chiểu trở thành cảng cửa ngõ quốc tế của vùng; Nhà ga hàng hóa đạt công suất khai thác 100.000 tấn hàng hóa/năm và mở rộng Nhà ga hành khách T1, T2 - Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng đạt công suất 10 triệu hành khách/năm; Cảng hàng không Chu Lai đạt tiêu chuẩn cảng hàng không quốc tế; luồng cảng 50.000 tấn tại Cửa Lở; khơi thông sông Cổ Cò, sông Trường Giang; đường sắt nhánh nối đến cảng Liên Chiểu; hạ tầng giao thông chiến lược liên vùng Đông - Tây; phối hợp đề xuất đầu tư tuyến cao tốc Đà Nẵng - Thạnh Mỹ - Ngọc Hồi - Bờ Y; mở rộng cao tốc Bắc - Nam phía Đông đoạn La Sơn - Hòa Liên; các dự án giao thông kết nối thành phố Đà Nẵng qua các tỉnh Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan: 14D, 14B… Đôn đốc triển khai các đường trục chính, liên khu vực, tuyến kết nối giao thông đến các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, cảng Liên Chiểu, Khu Thương mại tự do. Nghiên cứu, triển khai một số tuyến đường sắt đô thị (mô hình LRT và MRT); các công trình mang tính biểu tượng của thành phố trong kỷ nguyên phát triển mới: Đề án thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển khu vực đất mới trên biển tại Đà Nẵng; hệ thống đường sắt đô thị kết nối với Hội An Đông, Quảng Phú, Chu Lai; kết nối giao thông ngầm qua Sân bay quốc tế Đà Nẵng.

Phát triển hạ tầng mềm, hạ tầng số để phát triển đô thị theo hướng thông minh, xanh, bền vững; phát triển các đô thị chức năng như: đô thị hành chính, đô thị di sản, đô thị du lịch, đô thị công nghiệp, đô thị cảng biển, đô thị sân bay, đô thị giáo dục; ưu tiên bố trí nguồn lực hoàn thiện Khu đô thị Đại học Đà Nẵng. Xây dựng Kế hoạch phát triển nhà ở giai đoạn 2025-2030 đảm bảo phù hợp với Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tiếp tục đầu tư nâng cấp, cải tạo hạ tầng đô thị, nhất là khu vực nội thị trung tâm thành phố, mở rộng kiệt hẻm, các tuyến đường có lòng đường nhỏ, hệ thống thoát nước; tái thiết đô thị ở những khu dân cư có hạ tầng thấp kém, các khu chung cư, nhà tập thể xuống cấp..., gắn với nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý đô thị.

Quan tâm phát triển hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, công nghệ thông tin, viễn thông khu vực miền núi để giảm chênh lệch giữa khu vực đồng bằng và miền núi; ưu tiên đầu tư sắp xếp dân cư gắn với ổn định sản xuất, phát triển du lịch sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, sạt lở, ổn định lâu dài cuộc sống người dân; đầu tư mở rộng hệ thống giao thông liên xã, liên thôn, thủy lợi nhỏ, điện lưới quốc gia, đảm bảo 100% hộ dân vùng sâu, vùng xa được tiếp cận điện, nước hợp vệ sinh. Xây dựng nông thôn mới toàn diện, giàu bản sắc văn hóa, hài hòa với thiên nhiên, gắn với đô thị hóa, hiện đại hóa; nâng cao chất lượng các tiêu chí, phát triển nông nghiệp bền vững, nông thôn kiểu mẫu phục vụ phát triển kinh tế tại chỗ.

Quản lý, khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên rừng, biển, đất đai, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu; xây dựng và triển khai Đề án tín chỉ cacbon, Đề án thoát lũ hồ Phú Ninh. Bảo vệ, phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo tồn đa dạng sinh học vùng biển ven bờ kết hợp phát triển du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái; bảo tồn đất ngập nước hồ Sông Đầm; thành lập khu bảo tồn đất ngập nước hạ lưu Sông Thu Bồn; xử lý nghiêm các vi phạm về đất đai, khoáng sản, môi trường. Đảm bảo thực hiện tốt công tác thu gom, phân loại xử lý rác thải; hoàn thành các dự án nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Khánh Sơn, nhà máy xử lý rác khu vực phía Nam.

5. Phát triển văn hóa - xã hội đồng bộ, gắn kết chặt chẽ, hài hòa và ngang tầm với phát triển kinh tế, xây dựng thành phố giàu bản sắc, đời sống người dân được nâng cao

Nghiên cứu, cụ thể hóa các tiêu chí, chuẩn mực, đặc trưng thành phố Đà Nẵng và con người xã hội chủ nghĩa hiện đại, giàu bản sắc, nhân văn, sáng tạo, tri thức cao, văn hóa cao, thu nhập cao, quản trị cao, chất lượng cuộc sống cao. Rà soát, bám sát các đề án, chương trình mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam để đề xuất một số dự án phù hợp và tranh thủ nguồn lực triển khai. Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; xây dựng Đà Nẵng trở thành trung tâm văn hóa, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân lực văn hóa, nghệ thuật của vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ.

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản lịch sử, văn hóa, nhất là di sản được tổ chức UNESCO ghi danh, di sản văn hóa thế giới Đô thị cổ Hội An, các di tích văn hóa cấp quốc gia. Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích và xây dựng Đề án xã hội hóa công tác quản lý, khai thác di sản văn hóa thế giới Khu đền tháp Mỹ Sơn; xúc tiến kêu gọi đầu tư Di tích quốc gia đặc biệt Ngũ Hành Sơn, di tích Phật viện Đồng Dương, di tích lịch sử Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh; đảm bảo chất lượng, tiến độ các dự án tu bổ, phục hồi và tôn tạo di tích Thành Điện Hải giai đoạn 2, Bảo tàng điêu khắc Chăm giai đoạn 2, Quảng trường trung tâm, Phố cổ Hội An… Giữ gìn bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội dân gian, tiếng nói - chữ viết của các dân tộc thiểu số. Phấn đấu đến năm 2030, 100% di tích đã xếp hạng được tu bổ, tôn tạo; 100% di sản phi vật thể thuộc danh mục di sản phi vật thể quốc gia được bảo tồn, phát huy giá trị.

Phát huy vai trò của Nhân dân là trung tâm của phát triển văn hóa, vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là người truyền bá và thụ hưởng các giá trị văn hóa. Xây dựng môi trường văn hóa, văn học, nghệ thuật, thể dục, thể thao lành mạnh; hoàn thành, đưa vào sử dụng Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh - Hội nghị thành phố. Phát triển tối đa nhân tố văn hóa, con người Đà Nẵng toàn diện, có giá trị bản sắc riêng, nhân cách hoàn thiện, tuân thủ pháp luật, hội nhập quốc tế; giữ gìn và phát huy truyền thống quê hương, bản sắc con người xứ Quảng “Trung dũng, kiên cường, sáng tạo, nhân văn”, gắn với khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào, tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc, khát vọng xây dựng thành phố phồn vinh, hạnh phúc. Xây dựng văn hóa ứng xử lành mạnh trong môi trường số, tạo dựng các giá trị văn hóa phù hợp với thời đại số; phát huy văn hóa chính trị, đạo đức công vụ trong cán bộ, đảng viên; phát triển văn hóa kinh doanh và đạo đức doanh nhân làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo gắn với nâng cao dân trí, thúc đẩy xây dựng xã hội học tập, công dân học tập suốt đời; xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phố học tập. Đảm bảo tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước, gắn với đẩy mạnh xã hội hóa, hội nhập quốc tế trong giáo dục và đào tạo; xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục khu vực miền núi, hải đảo, vùng khó khăn; đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới đất liền; đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật trường học theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ, hiện đại, đảm bảo việc học 2 buổi/ngày ở cấp tiểu học và đẩy mạnh thực hiện đối với cấp trung học cơ sở. Khuyến khích phát triển các mô hình trường học mới như: trường học số, trường học thông minh, trường học hạnh phúc; đẩy mạnh phương thức giáo dục tích hợp khoa học, kỹ thuật, công nghệ, văn hóa, nghệ thuật, toán học (STEAM) và nghiên cứu khoa học trong trường phổ thông; nâng cao năng lực ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học. Hỗ trợ 100% học phí đối với trẻ mầm non, học sinh phổ thông, học sinh tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn; hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở ở các xã biên giới, hải đảo.

Phối hợp với các bộ, ngành Trung ương kiến nghị cấp có thẩm quyền sớm ban hành các cơ chế, chính sách đặc biệt để trọng dụng và thu hút nhân tài (cả trong và ngoài nước, nhất là người Việt Nam đang sống, làm việc ở nước ngoài) trong một số ngành, lĩnh vực mà Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác định. Thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển nguồn nhân lực khu vực tư tại một số ngành, lĩnh vực mũi nhọn của thành phố đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong phát triển nhân lực công nghệ cao, ưu tiên kết nối hợp tác với các trường đại học, dạy nghề khu vực và thế giới trong đào tạo và thu hút nhân lực. Phối hợp hiệu quả giữa các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành, lĩnh vực mới, ưu tiên như: công nghệ thông tin và truyền thông, công nghiệp vi mạch, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, các ngành công nghiệp công nghệ cao khác và nhân lực cho các khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế.

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn thể Nhân dân trong công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe Nhân dân; đặt sức khỏe và công tác chăm sóc sức khỏe lên vị trí chiến lược ưu tiên trong tất cả các chủ trương, chính sách phát triển của thành phố; đảm bảo chính sách khám sức khỏe định kỳ cho Nhân dân ít nhất mỗi năm một lần ngay khi có chủ trương của Trung ương. Tập trung nâng cấp, hiện đại hóa các bệnh viện theo hướng chuyên sâu, phát triển bệnh viện vùng; triển khai có hiệu quả Đề án phát triển y tế thông minh và các nhiệm vụ Đề án 06 trong lĩnh vực y tế; thí điểm Bệnh viện thông minh (đạt mức 6 theo Thông tư số 54/2017/TT-BYT); nâng cao năng lực y tế cơ sở, bảo đảm chức năng chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng, quản lý bệnh mãn tính, phát hiện sớm và điều trị ban đầu, khám sức khỏe định kỳ, cập nhật sử dụng hồ sơ sức khỏe điện tử; triển khai hệ thống khám, chữa bệnh từ xa. Ban hành và triển khai các chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với cán bộ y tế, khuyến khích người có trình độ chuyên môn làm việc trong các lĩnh vực y tế.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, đặc biệt là các chương trình thành phố “5 không”, “3 có”, “4 an”, chương trình “xóa nhà tạm, nhà dột nát”. Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xây dựng nông thôn mới; ban hành các chính sách ưu đãi với người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, hộ cận nghèo, đảm bảo mọi người dân đều được hưởng thụ thành tựu của đổi mới, phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau(9); hằng năm, giảm 20%/tổng số hộ nghèo còn sức lao động theo chuẩn nghèo đa chiều của thành phố. Thực hiện đồng bộ các chính sách, nhiệm vụ, giải pháp về giải quyết việc làm; nâng cao hiệu quả công tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; chú trọng giải quyết việc làm cho thanh niên, quân nhân xuất ngũ; phấn đấu số lao động có việc làm mỗi năm đạt hơn 1,5 triệu người. Quản lý phát triển xã hội bền vững, hài hòa, đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội; khuyến khích, nhân rộng và chia sẻ các mô hình, kinh nghiệm, cách làm sáng tạo trong quản trị phát triển cộng đồng bền vững, giải quyết tốt các mâu thuẫn, tranh chấp và xung đột xã hội; xây dựng và nhân rộng các khu dân cư tự quản, đoàn kết, ấm no, hạnh phúc.

6. Tăng cường quốc phòng, an ninh, đảm bảo trật tự an toàn xã hội

Quán triệt, triển khai toàn diện các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là thực hiện có hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; xây dựng khu vực phòng thủ gắn với cụm phòng thủ thành phố vững mạnh cả về tổ chức, tiềm lực và thế trận. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại với quốc phòng, an ninh; giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại; giữa phòng thủ dân sự với bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của Nhân dân, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; đảm bảo ổn định để phát triển và phát triển để duy trì ổn định. Nâng cao chất lượng sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, diễn tập, công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ; xây dựng lực lượng vũ trang thành phố chính quy, tinh, gọn, mạnh, đáp ứng nhiệm vụ trong mọi tình huống; thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ biên giới và mốc giới quốc gia, bảo vệ chủ quyền biển đảo; xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Phấn đấu 100% xã, phường đạt cơ sở vững mạnh toàn diện về quốc phòng, an ninh.

Nắm và dự báo, đánh giá sát đúng tình hình để có giải pháp phòng ngừa, chủ động đấu tranh, ngăn chặn từ sớm, từ xa, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không để phát sinh “điểm nóng”; phấn đấu hằng năm kéo giảm 5% tội phạm về trật tự xã hội. Tăng cường công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ; bảo vệ bí mật nhà nước, đảm bảo an ninh mạng, an ninh kinh tế. Triển khai hiệu quả các giải pháp đảm bảo trật tự an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ. Thực hiện tốt Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030” gắn với nâng cao hiệu quả công tác quản lý địa bàn, cư trú, hoạt động của người nước ngoài. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, đối thoại trực tiếp với dân, xử lý đơn thư. Giải quyết tốt các vụ việc người dân khiếu kiện, tập trung đông người, kéo dài, phức tạp, không để hình thành “điểm nóng” về an ninh, trật tự.

7. Tăng cường hội nhập, hợp tác quốc tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đối ngoại; tập trung đẩy mạnh liên kết phát triển vùng, hợp tác với các địa phương

Triển khai thực hiện tốt Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế; thúc đẩy hình thành và triển khai hiệu quả các chương trình hợp tác, liên kết song phương, đa phương trên các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính - tiền tệ, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; đẩy mạnh hội nhập quốc tế về văn hóa, xã hội, du lịch, môi trường, giáo dục - đào tạo, y tế... Tổ chức có hiệu quả công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân; hoạt động đoàn ra, đoàn vào, xúc tiến đầu tư, du lịch, thương mại tại thị trường nước ngoài. Rà soát, đôn đốc thực hiện các biên bản ghi nhớ, các quan hệ hợp tác hữu nghị đã thiết lập, nhất là về thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ. Xúc tiến, ký kết quan hệ hợp tác với các địa phương có tính tương đồng, phù hợp với định hướng phát triển của thành phố. Tăng cường và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác tại các quốc gia láng giềng trên tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống, các quốc gia đang là đối tác chiến lược toàn diện của nước ta; thúc đẩy hợp tác, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới với tỉnh Sê - Kông (Lào); phát triển cửa khẩu đất liền, sớm hình thành tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây kết nối với khu vực Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan.

Tăng cường liên kết vùng để phát triển theo tư duy “không biên giới hành chính” giữa các địa phương. Phối hợp xây dựng chính sách đặc thù về phát triển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 03/11/2022 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 29/12/2022 của Chính phủ nhằm xây dựng Đà Nẵng là trung tâm kinh tế đầu tàu của vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ. Triển khai hiệu quả Quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; phối hợp đẩy nhanh hình thành, phát triển vùng động lực quốc gia miền Trung nhằm tạo không gian và động lực phát triển mới. Chủ động phát triển quan hệ liên kết, trao đổi, hợp tác với các tỉnh, thành phố trong cả nước để khai thác, phát huy tiềm năng, lợi thế, cùng nhau phát triển. Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác phát triển giữa thành phố Đà Nẵng và các địa phương (thành phố Hải Phòng, thành phố Huế...); chủ động liên kết chặt chẽ với thành phố Huế, tỉnh Quảng Ngãi để xây dựng chuỗi đô thị, cụm ngành kinh tế liên vùng, chuỗi giá trị: Du lịch - công nghiệp - logistics - giáo dục - y tế.

V. NHIỆM VỤ ĐỘT PHÁ

1. Thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, mở rộng hợp tác quốc tế, huy động các nguồn lực đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại.

2. Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số gắn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ kiến tạo, phát triển, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả trên các lĩnh vực, với tốc độ tăng trưởng GRDP từ 11%/năm trở lên.

3. Xây dựng thành phố Đà Nẵng hiện đại, giàu bản sắc, con người nhân văn, có chất lượng sống cao.

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XXIII có trách nhiệm xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động để cụ thể hóa thực hiện 3 nhiệm vụ đột phá, đảm bảo rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời gian, rõ kết quả, tính hành động và thực tiễn cao.

* *
*

Với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng bộ và Nhân dân thành phố, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố khóa XXII tổng kết, đánh giá nghiêm túc việc lãnh đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2020-2025 và đề ra phương hướng nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2025-2030. Trước tình hình thực tiễn đặt ra nhiều vấn đề, nhiệm vụ hệ trọng và khẩn trương, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố tin tưởng với truyền thống cách mạng, đoàn kết, sáng tạo, phát huy phẩm chất anh hùng, tự lực, tự cường, cả hệ thống chính trị và Nhân dân thành phố sẽ tạo thành khối thống nhất về ý chí và hành động, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, nỗ lực cao với những bước đi bài bản, chính xác, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, huy động cao nhất mọi nguồn lực để vượt qua khó khăn, thử thách, tăng tốc, bứt phá, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XXIII, xây dựng thành phố Đà Nẵng hiện đại, chất lượng sống cao, trở thành cực tăng trưởng của Việt Nam, cùng với đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG KHÓA XXII

____________

(1) Thành phố Đà Nẵng hiện nay có diện tích 11.867,18 km2, quy mô dân số 3.065.628 người; với 94 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 23 phường, 70 xã và 01 đặc khu Hoàng Sa).

(2) Đề án tái thiết, chỉnh trang, phát triển đô thị trung tâm thành phố giai đoạn 2023-2030; Đề án phát triển cây xanh đô thị thành phố giai đoạn 2021-2030; Đề án Chiến lược phát triển vật liệu xây dựng thành phố thời kỳ 2021-2030, định hướng đến năm 2050; điều chỉnh Chương trình phát triển đô thị giai đoạn 2021-2030; điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở giai đoạn 2021-2030; điều chỉnh Kế hoạch phát triển nhà ở thành phố giai đoạn 2021-2025; phê duyệt Quy chế quản lý kiến trúc thành phố…

(3) Đưa vào hoạt động Trung tâm giám sát điều hành thông minh (IOC, giai đoạn 1); hình thành các trung tâm giám sát chuyên ngành thông minh; triển khai dự án Hiện đại hóa Trung tâm chỉ huy kết hợp hệ thống camera và nhiều ứng dụng thành phố thông minh...

(4) Các chương trình thành phố “5 không”, “3 có”, “4 an” đạt nhiều kết quả tích cực và trở thành thương hiệu riêng.

(5) Giai đoạn 2021-2024, có 3.080 hộ dân được di dời chỗ ở, bằng 39,4% kế hoạch giai đoạn 2021-2025 (7.821 hộ).

(6) Đường trục chính từ Khu công nghiệp Tam Thăng đi cảng Kỳ Hà và sân bay Chu Lai, đường ven biển 129 (Võ Chí Công), đường nối Quốc lộ 14H đến ĐT609C, đường nối ĐT609C đến Quốc lộ 14B, đường trục chính Tam Hòa nối từ Quốc lộ 1A đến đường Võ Chí Công và ĐT613B...; triển khai các dự án nạo vét sông Cổ Cò, Trường Giang, các cầu qua sông. Phối hợp với các bộ, ngành Trung ương nghiên cứu cơ chế huy động vốn xúc tiến đầu tư hệ thống cảng biển, luồng Cửa Lở, sân bay Chu Lai, đường nối cửa khẩu Nam Giang đến cảng Quảng Nam.

(7) Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

(8) Phân theo đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông (CT.01), đoạn đi qua thành phố Đà Nẵng: Vùng Đông (khu vực đồng bằng ven biển) định hướng phát triển trở thành chuỗi đô thị chức năng (đô thị hành chính; đô thị di sản; đô thị du lịch; đô thị công nghiệp; đô thị cảng biển; đô thị sân bay; đô thị giáo dục), trung tâm tài chính, du lịch, logistics, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao. Vùng Tây (khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số) định hướng phát triển thành vùng nguyên liệu lâm sản và dược liệu quốc gia, phát triển nông nghiệp công nghệ cao; phát triển kinh tế vườn, trang trại, chăn nuôi; khai thác thủy điện, khoáng sản và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng.

(9) Đảm bảo 100% hộ gia đình chăm sóc trẻ em dưới 36 tháng tuổi, phụ nữ mang thai thuộc hộ nghèo, cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của thành phố được hưởng trợ cấp xã hội; 100% trẻ em mồ côi có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo được nhận đỡ đầu, chăm sóc, nuôi dưỡng; trợ cấp xã hội cho hộ nghèo không còn sức lao động, không có khả năng thoát nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của thành phố theo từng giai đoạn.

(0) Bình luận
Nổi bật
Mới nhất
BÁO CÁO CHÍNH TRỊ CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG KHÓA XXII TRÌNH ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU LẦN THỨ XXIII ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ NHIỆM KỲ 2025-2030
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO