Văn hóa - Văn nghệ

Cải lương thời bao cấp: Dải lụa vàng dệt giữa gian khó

HOÀNG KIM - ANH VŨ 11/01/2026 09:33

Trong dòng chảy trăm năm của nghệ thuật sân khấu dân tộc, có một giai đoạn mà khi nhắc lại, người ta vừa rưng rưng niềm thương cảm cho những thiếu thốn đời thường, vừa rạng ngời niềm tự hào về một thời hoàng kim rực rỡ. Đó là cải lương những năm hậu chiến, giai đoạn 1975 - 1985.

Hoàng Quốc Thanh và Lê Hồng Thắm trong vở Nàng Xê Đa bản tái dựng của Nhà hát Trần Hữu Trang. Ảnh :H.K

Một thập kỷ mà cái đói, cái nghèo của thời bao cấp không ngăn nổi những tâm hồn nghệ sĩ “rút ruột nhả tơ”, và cũng không ngăn nổi hàng triệu khán giả kiên nhẫn xếp hàng dài dưới mưa nắng để chờ đợi một tấm vé vào rạp. Cải lương lúc ấy không chỉ là giải trí, nó là nhịp thở, là tiếng lòng, là “dải lụa” óng ả vắt ngang bầu trời ký ức của một dân tộc vừa đi qua khói lửa.

Cuộc hội ngộ lịch sử và sự chuyển mình của những “vì sao”

Sau 30/4/1975, Sài Gòn và cả miền Nam bước vào một vận hội mới. Giữa những ngổn ngang của ngày đầu hòa bình, tiếng đàn kìm, đàn sến lại vang lên như một sự vỗ về. Trước năm 1975, Sài Gòn đã là “thánh đường” của cải lương với hàng chục đoàn hát danh tiếng như Thanh Minh - Thanh Nga, Kim Chung, Dạ Lý Hương... Sau cột mốc lịch sử, mô hình hoạt động thay đổi. Các đoàn tư nhân chuyển sang hình thức tập thể dưới sự quản lý của Nhà nước.

Đây là giai đoạn của một cuộc “sống chung” kỳ diệu. Sân khấu cải lương bấy giờ là sự hội tụ của ba nguồn nhựa sống: những nghệ sĩ lừng lẫy tại chỗ như Thanh Nga, Lệ Thủy, Minh Vương, Diệp Lang; những nghệ sĩ tập kết từ Bắc trở về như Lê Thiện, Tấn Đạt, Công Thành, Thanh Xuân; và cả những nghệ sĩ gốc Bắc nhưng đã dành trọn tình yêu cho điệu Nam ai, Nam bằng như Thanh Vy, Hà Quang Văn, Mạnh Dung, Thanh Dậu…

Dù khác biệt về phong cách, vùng miền, nhưng giữa họ có chung một niềm hồ hởi lạ kỳ: được hát trong một đất nước hòa bình. NSND Lệ Thủy từng nhớ lại, nghệ sĩ Sài Gòn dạy nghệ sĩ miền Bắc cách luyến láy vọng cổ sao cho ngọt, nghệ sĩ miền Bắc lại chỉ dẫn anh em miền Nam cách thể hiện tâm lý nhân vật cách mạng sao cho hào hùng. Sự giao thoa ấy không hề khiên cưỡng, trái lại, nó tạo nên một sức mạnh nội lực mới, khiến sân khấu cải lương trở nên đầy đặn và đa sắc hơn bao giờ hết.

Hào quang dưới mái rạp bao cấp

Cái “rực rỡ” của cải lương thời kỳ này đối lập hoàn toàn với cái “khó khăn” của đời sống vật chất. Bước vào thời bao cấp, những ngôi sao từng “lên xe xuống ngựa” nay cũng chung cảnh ngộ như mọi công dân: nhận lương theo định mức, mua gạo bằng tem phiếu. Một suất diễn thăng hoa, cát-sê nhận được đôi khi chỉ đủ mua vài tô hủ tiếu. Son phấn, phục trang khan hiếm đến mức nghệ sĩ phải chắt chiu từng thỏi son, tự tay khâu vá những bộ đồ diễn.

Để nuôi gia đình, nhiều nghệ sĩ phải xoay xở đủ nghề, từ bán hàng lặt vặt đến việc “lách luật” bán những chiếc vé mời dành cho thân nhân để kiếm tiền mua sữa cho con. Thế nhưng, cứ hễ tiếng trống khai tràng vang lên, bao nhọc nhằn cơm áo đều gác lại sau màn nhung. Họ bước ra sân khấu với vẻ lộng lẫy nhất, hát bằng tất cả bình sinh để đáp lại tấm chân tình của khán giả.

Sức sống của cải lương lúc đó mạnh mẽ đến mức kinh ngạc. Người dân Sài Gòn và các tỉnh thành “ghiền” cải lương như cơm ăn nước uống. Vé chợ đen luôn là cơn sốt âm ỉ mỗi đêm trước cửa rạp. Hình ảnh người người xếp hàng dài từ tờ mờ sáng để mua được chiếc vé xem Tiếng trống Mê Linh hay Bên cầu dệt lụa đã trở thành một biểu tượng của thời đại. Khán giả không chỉ xem bằng mắt, họ xem bằng cả trái tim, khóc cười cùng nhân vật, tạo nên một sự gắn kết tri kỷ giữa sàn diễn và khán phòng mà sau này hiếm khi tìm lại được.

Những tượng đài nghệ thuật

Cải lương thời bao cấp không chỉ có lượng mà còn có chất. Đây là giai đoạn ra đời của hàng loạt tác phẩm được định danh là “kinh điển”, những vở diễn mà nửa thế kỷ sau vẫn còn nguyên giá trị.

Lịch sử Việt Nam đã trở thành mạch ngầm tuôn chảy mạnh mẽ trên sân khấu. Những trang sử khô khan trong sách giáo khoa được thổi hồn, trở nên sống động và lẫm liệt. Tiếng trống Mê Linh với hình tượng Trưng Trắc của NSƯT Thanh Nga đã trở thành một tượng đài bất tử. Ánh mắt kiên trung của người nữ chủ tướng khi tế chồng để lo việc nước đã chạm đến tận cùng niềm tự hào dân tộc của mỗi người dân.

Cùng với đó là Thái hậu Dương Vân Nga, nơi khán giả thấy được một người phụ nữ quyền lực đặt lợi ích quốc gia lên trên tình riêng qua khoảnh khắc trao long bào cho Lê Hoàn. Hay một Nhuỵ Kiều tướng quân với chất giọng đồng của NSƯT Diệu Hiền, tái hiện hình ảnh Bà Triệu oai phong trên lưng voi, chém cá kình Biển Đông. Những vở diễn như Câu thơ yên ngựa, Bão táp Nguyên Phong không chỉ là nghệ thuật, đó là những bài học lịch sử thấm đẫm huyết quản, bồi đắp lòng yêu nước cho nhiều thế hệ.

Nếu mảng lịch sử là những bản hùng ca, thì cải lương xã hội lại là những khúc tâm tình đầy day dứt. Đời cô LựuTô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang đã trở thành nỗi ám ảnh ngọt ngào. Đó là tiếng khóc cho thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ đầy rẫy bất công, nhưng đồng thời cũng ngợi ca vẻ đẹp của sự chịu đựng, đức hy sinh và lòng vị tha.

Không chỉ dừng lại ở việc phản chiếu quá khứ, cải lương thời kỳ này còn nhạy bén với những vấn đề đương đại. Ánh sáng và bóng tối táo bạo phơi bày những góc khuất tha hóa của con người trong thời buổi giao thời. Tiếng hò sông Hậu lại khắc họa cuộc đấu tranh kiên cường của nông dân Nam Bộ. Sự đa dạng này cho thấy cải lương không hề tách rời đời sống mà luôn đồng hành, phản biện và định hướng những giá trị đạo đức tốt đẹp cho xã hội.

NSƯT Thanh Sang và nghệ sĩ Phượng Liên trong vở Bên cầu dệt lụa được tái dựng. Ảnh :H.K

Tinh hoa Việt trong hình hài mới

Một điểm sáng không thể không nhắc đến trong bức tranh cải lương thời bao cấp chính là sự ra đời của “Cải lương tuồng cổ”. Tiền thân là nghệ thuật Hồ Quảng vốn đậm màu sắc ngoại lai, các nghệ sĩ tài hoa như NSND Thanh Tòng, nhạc sĩ Đức Phú và soạn giả Bạch Mai đã thực hiện một cuộc cách tân táo bạo.

Họ đã “Việt hóa” hoàn toàn thể loại này từ nội dung đến hình thức. Những điệu lý dân gian mộc mạc như Lý Con Sáo, Lý Cái Mơn được cài cắm tài tình thay cho các bản cũ. Vũ đạo hát bội được giản lược, trở nên uyển chuyển và gần gũi hơn với tâm thức người Việt. Những vở tuồng cổ về đề tài lịch sử như Bức ngôn đồ Đại Việt, Má hồng soi kiếm bạc, Mặt trời đêm thế kỷ đã tạo nên một diện mạo mới: vừa sang trọng, uy nghi của tuồng, vừa mượt mà, trữ tình của cải lương.

Sự chuyển mình này không chỉ là giải pháp tình thế để thích nghi với bối cảnh mới, mà thực sự là một quá trình tiếp biến văn hóa đầy bản lĩnh. Nó chứng minh rằng nghệ sĩ Việt không bao giờ rập khuôn, họ luôn biết cách chắt lọc tinh hoa nhân loại để làm giàu thêm cho bản sắc dân tộc. Chính nhờ cuộc cách mạng này mà cải lương có thêm một nhánh mới rực rỡ, góp phần giữ lửa cho sân khấu truyền thống đến tận hôm nay.

Nhìn lại hành trình 50 năm, đặc biệt là giai đoạn bao cấp “khó khăn nhưng rực rỡ”, chúng ta nhận ra rằng: giá trị của nghệ thuật không nằm ở sự đủ đầy của vật chất, mà nằm ở sự chân thành của người sáng tạo và lòng say mê của người thụ hưởng.

Những nghệ sĩ của “thế hệ vàng” năm ấy giờ đây người còn người mất, nhưng những gì họ để lại là gia tài văn hóa khổng lồ. Đó là những vai diễn mẫu mực, những bài ca đi cùng năm tháng, và quan trọng nhất là tinh thần làm nghề tận hiến. Cải lương thời bao cấp đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình: nó là chiếc cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, là sợi dây thắt chặt tình đoàn kết dân tộc, và là minh chứng hùng hồn cho sức sống mãnh liệt của tâm hồn Việt.

Hôm nay, giữa dòng chảy của công nghệ và nhiều loại hình giải trí hiện đại, cải lương có lúc thăng lúc trầm. Nhưng những viên ngọc quý từ thời kỳ hoàng kim ấy vẫn không ngừng tỏa sáng. Khi các sân khấu trẻ dàn dựng lại Tiếng trống Mê Linh hay Câu thơ yên ngựa, khi những bạn trẻ ngân nga điệu vọng cổ trên không gian mạng, ta biết rằng “dải lụa” ấy vẫn đang được nối dài.

Khép lại trang sử của một thời bao cấp đầy hoài niệm, ta thấu hiểu hơn bao giờ hết giá trị của hai chữ “truyền thống”. Khó khăn có thể khiến con người ta chật vật về cơm áo, nhưng chính những giá trị tinh thần rực rỡ sẽ là thứ ánh sáng soi đường, giúp dân tộc vượt qua mọi bão dông để đi tới tương lai.

(0) Bình luận
x
Nổi bật
Mới nhất
Cải lương thời bao cấp: Dải lụa vàng dệt giữa gian khó
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO