Giá cả thị trường hôm nay 12/9: Giá vàng trong nước giảm còn 129,5-132,8 triệu đồng/lượng. Vàng thế giới tăng lên 120,72 triệu đồng/lượng. Đồng USD yếu, giá cà phê, tiêu biến động.
Tại thời điểm 09:38 sáng nay, giá vàng SJC và DOJI đều giảm 800 nghìn đồng ở chiều mua vào, xuống còn 129,5 triệu đồng/lượng. Ở chiều bán ra, giá vàng giảm 500 nghìn đồng, niêm yết ở mức 132,8 triệu đồng/lượng.
Thương hiệu Mi Hồng ghi nhận mức giảm mạnh hơn, với giá vàng mua vào giảm 500 nghìn đồng, còn 129 triệu đồng/lượng. Ở chiều bán ra, giá vàng Mi Hồng giảm 1 triệu đồng, xuống 131 triệu đồng/lượng.
Tương tự, PNJ cũng điều chỉnh giảm 800 nghìn đồng ở chiều mua vào, còn 129,5 triệu đồng/lượng. Ở chiều bán ra, giá vàng PNJ giảm 500 nghìn đồng, niêm yết ở mức 132,8 triệu đồng/lượng.
Trong khi đó, Vietinbank Gold điều chỉnh giảm ở chiều bán ra, xuống 132,8 triệu đồng/lượng, giảm 500 nghìn đồng.
Bảo Tín Minh Châu ghi nhận mức giảm 500 nghìn đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đạt 129,5 triệu đồng/lượng và 132,8 triệu đồng/lượng tương ứng.
Riêng Phú Quý có mức giảm sâu nhất, với giá vàng mua vào giảm 1,2 triệu đồng, xuống 128 triệu đồng/lượng. Ở chiều bán ra, giá vàng Phú Quý giảm 1,1 triệu đồng, còn 132,8 triệu đồng/lượng.
Vào 9h30 ngày 11/9/2025, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 126,2 triệu đồng/lượng (mua) và 129,2 triệu đồng/lượng (bán), giảm 1,1 triệu đồng ở cả 2 chiều vào và ở chiều bán ra so với ngày trước, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giữ giá vàng nhẫn ở mức 127,7 triệu đồng/lượng (mua) và 130,7 triệu đồng/lượng (bán), đi ngang ở cả 2 chiều so với đầu giờ sáng, với chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 125,7 triệu đồng/lượng (mua) và 128,7 triệu đồng/lượng (bán), giảm 1,3 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch mua - bán là 3 triệu đồng/lượng.
| Giá vàng hôm nay | Ngày 12/9/2025 (Triệu đồng) | Chênh lệch (nghìn đồng/lượng) | ||
| Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
| SJC | 129,5 | 132,8 | -800 | -500 |
| Tập đoàn DOJI | 129,5 | 132,8 | -800 | -500 |
| Mi Hồng | 129,0 | 131,0 | -500 | -1000 |
| PNJ | 129,5 | 132,8 | -800 | -500 |
| Vietinbank Gold | 132,8 | -500 | ||
| Bảo Tín Minh Châu | 129,5 | 132,8 | -500 | -500 |
| Phú Quý | 128,0 | 132,8 | -1200 | -1100 |
Giá vàng thế giới, lúc 09h30 ngày 12/9/2025 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay ở mức 3648,7 USD/ounce. Giá vàng hôm nay tăng 15,5 USD so với ngày hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.476 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 120,72 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). So sánh với giá vàng miếng SJC trong nước cùng ngày (129,5-132,8 triệu đồng/lượng), giá vàng SJC hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 12,08 triệu.

Trên thị trường Mỹ, chỉ số DXY - chỉ số đo lường sức mạnh của đồng USD so với một rổ các đồng tiền chủ chốt khác - hiện ở mức 97,50, giảm 0,29%.
Đồng USD đã giảm giá so với các đồng tiền chủ chốt như Euro và Yên Nhật vào ngày thứ Năm. Điều này được cho là do dữ liệu lạm phát tháng 8 của Mỹ cao hơn dự kiến, củng cố quan điểm rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất vào tuần tới.
Trong phiên giao dịch buổi chiều, đồng USD giảm 0,3% so với đồng Yên, còn 147,09 Yên. Đồng Euro tăng 0,4%, lên 1,1738 USD. Sự tăng giá của đồng Euro được cho là do sự suy giảm kỳ vọng về việc cắt giảm thêm lãi suất vay, sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất như dự đoán và đưa ra quan điểm lạc quan về tăng trưởng và lạm phát. Tuy nhiên, dữ liệu kinh tế Mỹ vẫn là yếu tố chi phối chính thị trường ngoại hối.
Ngoài ra, đồng USD cũng giảm 0,5% so với Franc Thụy Sĩ, xuống 0,7956; trong khi đồng Bảng Anh tăng 0,4% so với USD, lên 1,3578 USD.
Cập nhật bảng tỷ giá USD hôm nay ngày 12/9/2025:
| Mã ngoại tệ | Tên ngoại tệ | Mua (đồng) | Bán (đồng) |
|---|---|---|---|
| USD | US DOLLAR | 26,166 | 26,476 |
| EUR | EURO | 30,174 | 31,765 |
| GBP | UK POUND STERLING | 34,908 | 36,389 |
| JPY | JAPANESE YEN | 173 | 184 |
| AUD | AUSTRALIAN DOLLAR | 17,137 | 17,865 |
| SGD | SINGAPORE DOLLAR | 20,056 | 20,950 |
| THB | THAI BAHT | 734 | 850 |
| CAD | CANADIAN DOLLAR | 18,593 | 19,383 |
Giá cà phê tại các khu vực trọng điểm sản xuất cà phê của Việt Nam hôm nay được ghi nhận như sau:
Khu vực Di Linh, Lâm Hà, Bảo Lộc (Lâm Đồng): 116.500 đồng/kg
Khu vực Cư M'gar (Đắk Lắk): 117.300 đồng/kg
Khu vực Ea H'leo, Buôn Hồ (Đắk Lắk): 117.200 đồng/kg
Khu vực Đắk Nông: 117.400 đồng/kg
Khu vực Gia Nghĩa và Đắk R'lấp (Đắk Nông): 117.300 đồng/kg
Khu vực Chư Prông, Pleiku, La Grai (Gia Lai): 117.200 đồng/kg, 117.100 đồng/kg
Khu vực Kon Tum (Quảng Ngãi): 117.200 đồng/kg
Trên thị trường thế giới, giá cà phê Robusta tại London tăng, trong khi giá cà phê Arabica tại New York giảm nhẹ. Diễn biến này phản ánh sự suy yếu của đồng USD, khi thị trường đặt cược Fed sớm cắt giảm lãi suất.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 8 tháng năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,2 triệu tấn cà phê, giảm gần 10% về sản lượng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá trị đạt hơn 3,7 tỷ USD, tăng gần 15% nhờ giá xuất khẩu bình quân tăng mạnh, đạt xấp xỉ 3.100 USD/tấn.
Ngoài xuất khẩu, thị trường nội địa cũng được xem là "cánh tay thứ hai" để nâng cao vị thế cà phê Việt. Mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tại Việt Nam đang đạt khoảng 2,5 - 3 kg/năm, thấp hơn nhiều so với mức 6 - 8 kg/năm của châu Âu, nhưng tốc độ tăng trưởng khá nhanh.
Các chuyên gia dự báo, nhu cầu cà phê toàn cầu dịp cuối năm, đặc biệt là ở Mỹ và châu Âu sẽ tăng mạnh nhờ mùa lễ hội và tiêu dùng phục hồi.
Giá tiêu nội địa đang có sự điều chỉnh giảm nhẹ sau thời gian tăng nóng.
Tây Nguyên: Giá tiêu giảm 1.000 đồng/kg, dao động từ 149.000 - 152.000 đồng/kg.
Đông Nam Bộ: Giá tiêu giảm 1.000 - 2.000 đồng/kg, dao động quanh mức 148.000 - 151.000 đồng/kg. Mức giá thấp nhất cả nước hiện là 148.000 đồng/kg tại Đồng Nai.
Dù giảm, giá tiêu hiện tại vẫn cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm ngoái.
Thị trường tiêu quốc tế đang có sự phân hóa:
Indonesia: Giá tiêu đen và tiêu trắng giảm nhẹ.
Brazil và Malaysia: Giá tiêu giữ ổn định.
Việt Nam: Giá tiêu xuất khẩu tăng mạnh, với tiêu đen lên 6.600 - 6.800 USD/tấn và tiêu trắng lên 9.250 USD/tấn, cho thấy nhu cầu thu mua cao.
Các chuyên gia nhận định việc giá tiêu trong nước giảm có thể chỉ là tạm thời, trong khi giá xuất khẩu của Việt Nam vẫn giữ lợi thế cạnh tranh do nguồn cung toàn cầu chưa được cải thiện.
Thị trường cao su thế giới đang có diễn biến trái chiều. Giá cao su trên sàn Thượng Hải (SHFE) và Nhật Bản (OSE) giảm, do nhu cầu từ ngành ô tô Trung Quốc suy yếu và đồng Yên tăng giá. Trong khi đó, giá cao su tại Thái Lan và Singapore lại ghi nhận mức tăng nhẹ.



Tại Việt Nam, giá cao su trong nước được các công ty lớn như Bình Long, Phú Riềng, Bà Rịa, và MangYang duy trì sự ổn định, với mức giá thu mua dao động quanh 400 đồng/độ TSC/kg.
Giá thép trong nước tại cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều giữ nguyên so với phiên trước. Các thương hiệu lớn như Hòa Phát, Việt Đức, VAS duy trì mức giá ổn định, dao động trong khoảng 12.730 – 13.650 đồng/kg tùy chủng loại.
Trong khi đó, thị trường quốc tế lại chứng kiến sự điều chỉnh giảm.
Giá thép trên sàn Thượng Hải (SHFE) và quặng sắt trên sàn Singapore đều giảm nhẹ.
Các chuyên gia nhận định đây là động thái chốt lời sau chuỗi tăng mạnh, đồng thời chịu ảnh hưởng từ dữ liệu kinh tế kém khả quan tại Trung Quốc. Tuy nhiên, việc các nhà máy Trung Quốc tăng sản xuất có thể sẽ hỗ trợ nhu cầu và hạn chế đà giảm giá sâu hơn.