Trong nhiều nhà văn thuộc thế hệ 8X, cái tên Hoàng Công Danh có lẽ là một ca lạ với văn đàn. Anh chàng quê gốc Quảng Trị này vốn dĩ học lớp cử nhân Vật lý chất lượng cao, khóa II của Đại học Huế. Năm 2007, theo học bổng hợp tác giữa hai quốc gia Việt Nam và Belarus, Hoàng Công Danh sang Minsk học khoa Vật lý tại Trường Đại học Tổng hợp quốc gia Belarus. Năm 2010, anh tốt nghiệp về nước nhưng rẽ sang con đường văn chương.

Năm 2013, Hoàng Công Danh ra mắt tập truyện Cõng nhau trong một cõi người và lập tức gây xôn xao giới viết bởi độ dày công ở mỗi truyện ngắn viết ra. Từ đó đến nay Hoàng Công Danh in thêm một số tác phẩm. Trong nhiều tác phẩm sau này, có lẽ độc giả và bạn văn nhớ nhất là truyện dài Bảy bảy bốn chín, tác phẩm giúp anh đoạt giải thưởng Văn học tuổi 20 lần thứ 7.
Mới đây, Hoàng Công Danh tái ngộ độc giả bằng cuốn tùy bút Ngũ sắc vạn hoa (NXB Trẻ, 2026) gồm 37 bài viết giàu sự chiêm nghiệm cuộc sống. Gần 250 trang in với những câu chuyện như dẫn dắt người đọc quay về với những giá trị truyền thống của quê xứ trong một bối cảnh xã hội đang ngày càng khiến con người “công nghệ hóa” mọi thứ, kể cả niềm vui giản đơn, hay cảm xúc chân thành.
Ai cũng có cho riêng mình một bản xứ để yêu thương. Cũng chính nơi ấy là không gian ấp iu ký ức, để từ đó ước mơ chắp cánh bay đi những miền xa xôi dịu vợi. Nhưng bao nhiêu cánh chim ngược gió thiên di mà trở về? Hoặc ngày về có còn thảo thơm với nét chân phương hồn hậu? Những câu hỏi giúp người trẻ như soi lại chính mình trong cuộc bể dâu cõi người khi đọc các tùy bút trong tập sách này.
Bằng lối viết mộc mạc, tựa như một gã trung niên ngồi đó, pha ấm trà và bắt đầu kể chuyện tình làng nghĩa xóm, tình đất tình người. Cách kể bâng quơ, không toan tính trong câu chữ, không tỉa tót văn chương, càng không cố gồng lên để tạo ra thông điệp. Chính sự chân phương ấy khiến câu chuyện của Hoàng Công Danh chạm vào sự rung cảm của người đọc.
Trong hành trình ký ức đó, có những câu chuyện không chỉ là nỗi niềm của riêng tác giả, mà còn là cả một trời thương tưởng đến ray rứt lòng của bất cứ một đứa con nào đó của khúc ruột miền Trung: “Quê nhà, chén cơm, và mạ - cả ba điều ấy hóa ra thành một, là nơi cho ta no cả lòng và đầy đặn cả tâm hồn. Gạo nào ngon hơn gạo mạ ta trồng, cơm nào ngon hơn cơm mạ ta nấu. Bao giờ tôi cũng đinh ninh thế, tự hào thế, về những người mạ miền Trung. Mạ, tiếng quê tôi gọi mẹ, thân thương trìu mến. Mạ, cũng là chữ để gọi cây lúa non. Sau trận “đại hồng thủy 1999”, đó là những tháng ngày ám ảnh trong tôi về cái ăn. Nhà lâm cảnh khó vì mạ sinh thêm hai đứa em nhỏ gần nhau. Bữa tối mở cái lu trữ gạo ra, thấy trơ đáy, hỏi sáng mai ăn chi mạ? Mạ không nói gì, mắt trĩu xuống. Thế mà sáng mai mạ vẫn dậy sớm đun rơm nấu cơm cho anh em chúng tôi ăn đi học”. (Trích Bưng chén cơm ăn sao đắng cả lòng).
Ngũ sắc vạn hoa cũng mang cái Tết quê nồng nàn đến với độc giả. Dưới ngòi bút Hoàng Công Danh, những khung cảnh, âm thanh, hương vị ngày Tết lần lượt hiện lên rõ nét, dường như có thể nhìn, nghe, ngửi và nếm được chúng bằng các giác quan mình. Ở mỗi khung hình, những sinh hoạt ngày Tết của bà con hiện lên, lúc rộn ràng đan xen với khi tĩnh lặng, cái đời thường đan xen với những lễ nghi, bao nỗi lo toan về cái ăn cái ở đan xen với những niềm tin và ước vọng. Đời sống vật chất đan xen đời sống tinh thần, dệt nên một cái Tết đậm đà bản sắc.
Tuy vậy, dễ thấy những vọng vang xuyên suốt Ngũ sắc vạn hoa là nỗi bùi ngùi khi những nét đẹp hồn hậu một thời dần mai một. Những cái nhanh chóng và tiện lợi đang dần thay thế những cái tự cấp, tự túc, thay thế những “món quê tự làm”, “của nhà làm được”, thay thế khoảnh khắc mọi người quây quần lại cùng nấu, cùng ăn. Giữa bối cảnh đó, tác giả càng trân trọng nỗ lực kế thừa và nghi lễ ở làng quê, càng trân trọng những mảnh “nếp xưa” quý giá.
Khép trọn tập tùy bút này, có thể thấy Ngũ sắc vạn hoa chính là một cách Hoàng Công Danh dùng câu chữ để giữ lòng không nguội trước những nét đẹp của văn hóa dân tộc, của làng quê Việt trong thời liến xáo hiện đại ngày nay. Phải chăng đó cũng là sứ mệnh của một người cầm bút luôn thao thiết lòng mình...