Chiến tranh đã lùi xa nhưng di chứng chất độc da cam/dioxin vẫn đeo bám nhiều gia đình qua thế hệ thứ 3, thứ 4. Bằng trách nhiệm của các cấp, ngành cùng sự chung tay của cộng đồng, thành phố Đà Nẵng triển khai nhiều hoạt động chăm sóc, hỗ trợ, huy động nguồn lực xã hội và cải thiện điều kiện sống cho nạn nhân. Từ sự sẻ chia trong đời thường đến những chính sách thiết thực về an sinh, mỗi việc làm đều góp phần xoa dịu nỗi đau, tiếp thêm niềm tin, giúp những mảnh đời kém may mắn có thêm động lực vươn lên.

Mang trong mình di chứng chiến tranh, nhiều nạn nhân da cam và con cháu của họ phải đối mặt với những thiệt thòi cả về sức khỏe lẫn tương lai. Bằng tình yêu thương, sự kiên trì và những mô hình chăm sóc nhân văn, Trung tâm Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh Đà Nẵng đang từng ngày chắp cánh hy vọng, chở che để giúp các em vượt qua mặc cảm, tự tin hòa nhập cộng đồng.
Tiếp thêm nghị lực
Nhìn vẻ bề ngoài với gương mặt khôi ngô, ít ai nghĩ Nguyễn Văn Hoàng Quân (14 tuổi, phường Hòa Xuân) là nạn nhân chịu ảnh hưởng bởi chất độc da cam với khuyết tật trí tuệ bẩm sinh. Trước đây, Quân từng 3 lần học lại lớp một nhưng vẫn không thể theo kịp chương trình. Sự rụt rè, ít giao tiếp khiến em gần như khép mình với mọi người xung quanh.
Bước ngoặt đến vào năm 2021, khi Quân được tiếp nhận chăm sóc, học tập và phục hồi chức năng tại Trung tâm Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh Đà Nẵng cơ sở 2 (xã Bà Nà). Tại đây, bằng sự đồng hành tận tụy của đội ngũ giáo viên và cán bộ, em từng bước thay đổi cả về nhận thức lẫn kỹ năng sống.
Trong xưởng thực hành, Quân cùng hai người bạn say mê làm hương. Dưới sự hỗ trợ của máy móc và hướng dẫn của giáo viên, em tự tin thực hiện các công đoạn từ vận hành thiết bị đến kiểm tra chất lượng sản phẩm.
Những thao tác còn chậm nhưng cẩn trọng cho thấy sự tiến bộ rõ rệt của Quân. Không chỉ biết làm nghề, Quân còn có những chuyển biến tích cực trong học tập. Quan trọng hơn cả là nụ cười cởi mở, sự tự tin khi giao tiếp với bạn bè và thầy cô, điều từng rất khó xuất hiện ở cậu bé này ngày nào.
Cũng từ mái nhà chung này, nhiều nạn nhân da cam khác đang từng ngày viết tiếp câu chuyện vượt lên số phận, như Nguyễn Lê Diệu Linh (17 tuổi). Khi mới vào trung tâm năm 2017, Diệu Linh thường xuyên khóc, mặc cảm và gần như không thể tự chăm sóc bản thân.

Sau nhiều năm được dạy dỗ, động viên và phục hồi chức năng, Diệu Linh đã biết tự ăn uống, thay quần áo, vệ sinh cá nhân, đọc được bảng chữ cái, nhận biết tên mình, tên người thân và đọc những bài thơ ngắn. Không dừng lại ở học văn hóa, Linh còn tham gia đội văn nghệ của trung tâm, thường xuyên biểu diễn trong các chương trình giao lưu.
Những tiết mục giản dị nhưng chứa đựng niềm vui, sự tự tin và khát vọng được hòa nhập. Song song đó, Diệu Linh được hướng dẫn học may với định hướng sau này có thể nhận sửa chữa, gia công quần áo để tạo thu nhập, từng bước tự lập.
Từ những lớp học nghề giản đơn, nhiều học viên đã có thể tự tạo việc làm khi trở về gia đình, như trường hợp của Mai Thị Mỹ Thuận (xã Hòa Tiến). Sau 8 năm học tập tại trung tâm, Thuận thành thạo nghề làm hoa voan kẽm nhung. Trở về nhà, Thuận chủ động đặt nguyên liệu, tự làm sản phẩm và bán qua mạng xã hội để tăng thu nhập. Mỹ Thuận còn được người thân hướng dẫn nghề làm tóc, đảm nhận công việc gội đầu tại cơ sở gia đình, từng bước ổn định cuộc sống bằng sức lao động của mình.
Ông Bùi Trung Hiếu, Phó Giám đốc Trung tâm Bảo trợ nạn nhân chất độc da cam và trẻ em bất hạnh Đà Nẵng (cơ sở 2) chia sẻ, mỗi trẻ khi đến trung tâm đều được đánh giá khả năng nhận thức, mức độ khuyết tật để xây dựng chương trình giáo dục phù hợp. Bên cạnh chăm sóc sức khỏe, bảo đảm dinh dưỡng và phục hồi chức năng, trung tâm còn tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, vui chơi, dã ngoại nhằm giúp học viên phát triển kỹ năng xã hội, tăng cường sự tự tin và hình thành lối sống tích cực.
Đặc biệt, việc dạy nghề luôn được chú trọng thông qua khảo sát năng lực từng trường hợp để lựa chọn lĩnh vực phù hợp như làm hương, may mặc, hoa voan, hoa cườm. Không ít học viên sau khi hoàn thành quá trình học tập đã được giới thiệu việc làm, có thu nhập ổn định và đủ điều kiện hòa nhập cộng đồng. Những kết quả ấy cho thấy trung tâm không chỉ chăm sóc mà còn trao cho học viên cơ hội xây dựng tương lai bằng chính nghị lực của mình.
Điểm tựa an sinh
Nhiều lần gọi điện, chúng tôi mới liên lạc được với chị Võ Thị Huyền Vi (SN 1980, tổ dân phố Giáng Nam 1, phường Hòa Xuân). Ở đầu dây bên kia, chị cười hiền: “Tôi đang dắt bò ra bờ sông cho ăn nên không nghe điện thoại”. Con bò cái chị nhắc đến là món quà do Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin thành phố Đà Nẵng trao tặng từ năm trước. Từ con bê được trao hỗ trợ sinh kế, đến nay đã trưởng thành và chuẩn bị phối giống, mở ra hy vọng nhân đàn, tạo thêm nguồn thu nhập cho gia đình Vi.

Chị Vi cho biết, ban ngày đi làm công nhân may với thu nhập chỉ hơn 3 triệu đồng mỗi tháng do thường xuyên phải nghỉ việc để chăm sóc con gái đầu là Võ Thị Thúy Nga (23 tuổi), nạn nhân chất độc da cam thế hệ thứ ba, nhiều năm liền phải nằm một chỗ. Căn nhà nhỏ của mẹ con chị không có tài sản đáng giá ngoài chiếc ti vi và tủ lạnh cũ.
Trong căn phòng phía sau, Nga đã thức dậy từ sớm nhưng vẫn nằm lặng trên giường chờ mẹ bế ra vệ sinh cá nhân rồi đút từng thìa cơm. Suốt 23 năm qua, mọi sinh hoạt của Nga đều gắn với vòng tay của mẹ.
Theo lời chị Vi, khi mang thai Nga, bác sĩ phát hiện thai nhi có dị tật và khuyên gia đình cân nhắc. Thế nhưng, chị quyết giữ con lại. Ngày chào đời, Nga không cất tiếng khóc, lập tức được chuyển lên tuyến trên cấp cứu. Khi trở về nhà, Nga chỉ nặng 1,1kg, không thể tự bú sữa nên bà ngoại phải kiên trì mớm từng thìa nhỏ.
Thời gian trôi qua, cơ thể lớn lên nhưng đôi chân Nga không thể bước đi, đôi tay không thể tự chăm sóc bản thân. Khó khăn nối tiếp khó khăn khi chồng chị Vi rời bỏ gia đình, để lại người phụ nữ một mình nuôi 3 đứa con.
Hai người con khỏe mạnh của chị Vi đều học giỏi, từng nuôi ước mơ đổi đời bằng con đường học tập. Tuy nhiên, nghèo khó đã khiến những dự định ấy phải dang dở. Người con trai đang học năm thứ ba đại học phải nghỉ sau một vụ tai nạn trên đường chăm chị gái trở về.

Người con út là Võ Thúy Hiền cũng từ bỏ việc học tiếng Pháp để đi làm, san sẻ gánh nặng cùng mẹ. Hiền chia sẻ, gia đình quá khó khăn nên quyết định nghỉ học để đi làm phụ mẹ chăm chị và lo cho anh sau tai nạn. Hiền chấp nhận gác lại ước mơ, chỉ mong mẹ, anh chị vẫn khỏe mạnh và ở bên nhau. Với ước mơ, khi có điều kiện, Hiền sẽ quyết tâm hiện thực hóa.
Rời nhà chị Vi, chúng tôi tìm đến gia đình ông Nguyễn Hòa ở xã Hòa Tiến. Nửa năm trước, người con gái duy nhất của ông bà qua đời sau nhiều năm chống chọi với di chứng chất độc da cam. Trong căn nhà vắng tiếng cười, ký ức về người con vẫn hiện diện qua từng câu chuyện của đôi vợ chồng già.
Ông Hòa từng tham gia thanh niên xung phong tại chiến trường Campuchia, vợ là bà Nguyễn Thị Thống từng đi bộ đội tại Trung đoàn 575. Sau ngày hòa bình, họ lập gia đình nhưng chỉ có một người con và cũng là nạn nhân chất độc da cam.
Để giúp gia đình có sinh kế, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin thành phố hỗ trợ một máy xay bột để làm bánh bèo bán cho người dân quanh xóm. Đây là sinh kế giúp gia đình có thêm thu nhập trang trải cuộc sống, mua thuốc cho con suốt nhiều năm. Đến nay, khi con gái không còn, chiếc máy ấy vẫn tiếp tục giúp hai ông bà có nguồn thu trang trải tuổi già.