Khi tôi có duyên về Đà Nẵng làm con dâu ba Vân, ông đã ở tuổi ngoại thất tuần, lui về nghỉ hưu nhưng vẫn miệt mài với công tác cán bộ hưu trí, xây dựng Đảng bộ địa phương.

Những ấn tượng ban đầu của tôi về ba Vân là gương mặt chính trực nghiêm nghị, dáng người gầy gò, nụ cười hiền hậu. Không ngờ, đằng sau dáng vẻ giản dị ấy là cả một quá khứ hào hùng, dữ dội của những năm tháng “tìm sự sống trong cái chết” của một người chiến sĩ cách mạng ở đất Quảng Đà.
Từ những dòng ghi chép
Sinh thời, ba Vân trở thành “khách quen” của các bệnh viện bởi di chứng từ những năm tháng lao tù, tra tấn khốc liệt để lại.
Mỗi lần vào viện thăm nom, nhìn những vết sẹo lớn hằn sâu trên cơ thể ông, tôi không khỏi rùng mình: vết đạn xẻ một rãnh hằn sâu hoắm trên cánh tay trái, vết sẹo dài như con rết bò dọc bụng.
Một lần, tôi lấy hết can đảm hỏi: “Ba, những vết sẹo ni sao mà dữ dằn đến thế?”. Ông cười: “Là vết thương từ hồi chiến tranh”.
Rồi một ngày, ông lục tủ lấy ra cuốn sổ bìa cứng đã ngả màu thời gian - là cuốn nhật ký lịch sử mà ông âm thầm ghi chép nhiều năm để làm tư liệu cho lịch sử Đảng bộ huyện Hòa Vang và Đảng bộ quận Sơn Trà.
Tôi lướt qua những trang giấy, chạm vào từng con chữ mà bỗng thấy nghèn nghẹn. Mỗi vết sẹo trên người ông, mỗi dòng chữ trong cuốn sổ ấy, là những dấu tích về một thời hoa lửa.
Kể từ hôm ấy, thi thoảng ông kể cho tôi nghe về những năm tháng hoạt động cách mạng dữ dội - giọng trầm chậm, đôi khi khẽ rung như những con sóng đêm ông từng bơi qua để tìm đường sống.
Sau Mậu Thân 1968, hàng loạt cơ sở nội thành của ta bị lộ, địch mở chiến dịch “cày trắng”, bắt và sát hại nhiều cán bộ, dồn dân vào ấp chiến lược.

Đồng chí Lê Thanh Vân (quê quán ở phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, nay là phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng), nguyên Phó Bí thư Quận ủy Quận 3 (1974), Phó Bí thư Huyện ủy Hòa Vang (1975), Trưởng ban Tổ chức chính quyền tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (1980-1995), thương binh hạng 2/4.
Trong suốt 43 năm công tác, với hơn 61 năm tuổi Đảng, ông đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Nhì; Huân chương Độc lập hạng Ba… (Ghi theo tư liệu của đồng chí Lê Thanh Vân lúc còn sống).
Lê Thanh Vân - khi ấy là Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy Quận 3 - được phân công vào nằm vùng ở Mỹ Khê một tháng để gây dựng lại cơ sở. Nhưng kế hoạch không trọn vẹn, địch ráo riết càn quét, các cơ sở bị phá gần hết, ông bị truy lùng gắt gao.
Để thoát hiểm, ông quyết định dẫn theo 3 đồng chí lao mình ra vùng biển Mỹ Khê, bơi theo dòng nước ngược sóng về căn cứ Quận ủy Quận 3 ở Hòa Hải.
Xuất thân từ vùng biển, bơi lội từ nhỏ nhưng chưa bao giờ biển khơi để lại trong ký ức của ông một dấu ấn sâu đậm và hãi hùng đến thế.
Biển đêm lạnh cóng, những hố cát sâu, vực xoáy chết người ẩn mình trong bóng tối. Có lúc tay chân tê dại, tưởng chừng buông xuôi mặc sóng cuốn, nhưng ý chí đã níu ông lại.
“Sức mạnh thần kỳ nào đó đã giúp ba bơi trọn 10km để trở về với đồng đội, với nhân dân”, ông không giấu nổi xúc động khi nhớ lại.
Cuộc đào thoát bắt đầu từ 22 giờ đêm 29/8/1968, đến khoảng 4 giờ 30 sáng ngày 30/8/1968, họ an toàn vào được Vùng 3 của Hòa Hải sau hơn 6 tiếng đồng hồ bơi trên biển đêm.
Năm 1969, sau khi ta đánh cháy kho đạn An Đồn, địch điên cuồng cày trắng vùng ngoại ô Đà Nẵng, dồn dân vào khu tập trung, chặn mọi con đường tiếp tế cho căn cứ trên núi.
Trong giai đoạn gian nan ấy, biến cố lớn nhất cuộc đời cách mạng của ba Vân ập đến, ông bị thương nặng và rơi vào tay giặc.
Thường xuyên bị tra tấn để khai thác thông tin nhưng giữa những trận đòn thù, ông chỉ một mực nhận mình là Phạm Kiên, người Phú Yên ra Đà Nẵng làm ăn.
Bất lực, đến tháng 3/1970, địch đưa ông vào Trại giam tù binh Non Nước - nơi những trận đấu trí, đấu lực khốc liệt khác lại bắt đầu.
Mổ bụng để đấu tranh
Trại giam tù binh Non Nước khi ấy là trại giam Vùng 1 chiến thuật của quân đội “Việt Nam Cộng hòa”. Ở đó, tù binh bị cưỡng bức lao động nặng nhọc, khẩu phần ăn kham khổ và thường bị bớt xén, áo quần rách nát.

Nhưng trong gian khổ, niềm tin cách mạng vẫn cháy bùng nhờ sự động viên, đùm bọc lẫn nhau. Lê Thanh Vân được anh em tin tưởng cử làm Bí thư Đảng bộ Quảng - Đà trong tù, thường xuyên tổ chức những đợt sinh hoạt Đảng và đấu tranh với địch mỗi khi chúng đàn áp, hành hạ tù binh. Cuối năm 1971, ông dẫn dắt anh em tù binh làm nên một cuộc đấu tranh chưa từng có trong Trại giam Non Nước.
Tháng 9/1971, khi địch chuẩn bị chiến dịch Lam Sơn 719, Trại giam Non Nước dồn 300 tù binh vào khu Tân sinh hoạt chung với bọn chiêu hồi, hòng chia cắt thông tin, triệt phong trào đấu tranh.
Tháng 11/1971, sau một bữa ăn chiều, xô xát nổ ra giữa tù binh và chiêu hồi, đồng chí Dương Văn Mau cùng phòng giam với ông (sau năm 1975 về làm Trưởng Công an phường Hòa Thuận, Hải Châu) đánh bị thương một tên phản bội. Lập tức quản ngục đóng cửa, bỏ đói cả phòng 80 người, yêu cầu nộp “kẻ nổi loạn”. Suốt 7 ngày nhịn đói, anh em dần kiệt sức.
Chiều ngày thứ 7, Lê Thanh Vân quyết định hành động. “Lúc ấy, ba và đồng đội xác định không còn gì để mất. Phải chọn hoặc chết, hoặc sống còn giữ được khí tiết”, ông kể.
Sau khi bàn bạc với các đồng chí cùng phòng, ông quyết định 3 địa phương (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng) cử 3 đồng chí ra mổ bụng, cắn lưỡi để buộc địch phải nhượng bộ.
Khi giám thị trưởng tên Nhu bước vào phòng nhục mạ tù nhân, ông đứng chắn cửa, rút con dao nhỏ tự chế từ cà mèn cũ, nghiến răng rạch một đường từ rốn lên bụng. Máu phun thành vòi. Tên Nhu hoảng hốt lùi lại. Ngay sau đó, hai đồng chí Tiến (Quảng Trị) và Nghĩa (Thừa Thiên Huế) cùng tiến lên, cắn lưỡi tự sát.
Lần đầu tiên gặp phải hình thức đấu tranh này trong Trại giam Non Nước, tên Nhu buộc phải gọi Bộ chỉ huy trại giam xuống giải quyết trong hoảng loạn.
Lúc này, cả ba người đã kiệt sức vì đau đớn và mất máu, đồng đội dìu họ nằm xuống và ngồi xếp hàng bảo vệ xung quanh.
Đồng chí Ngô Trung Kiên (Đảng ủy viên Khu II Hòa Vang, Đà Nẵng) cùng 5 tù binh còn mạnh khỏe đại diện đứng ra đưa yêu sách: không truy cứu người đánh tên chiêu hồi, không kỷ luật những người tham gia đấu tranh, chăm sóc thương binh, cải thiện chế độ ăn uống, và ngăn bọn chiêu hồi tiếp cận trại giam.
Trước tinh thần bất khuất của những người tù yêu nước, Thiếu tá Suyền - Chỉ huy trưởng trại giam buộc phải nhượng bộ, ba Vân cùng các đồng chí Tiến, Nghĩa được đưa vào trại y tế cứu chữa, giữ lại mạng sống.
Nhưng cũng từ đó, ông bị đưa vào tầm ngắm đặc biệt, nhiều lần bị chúng viện cớ và tra tấn dã man.
Tháng 5/1972, ba Vân cùng 800 tù binh bị địch di dời ra nhà tù Phú Quốc. Đến tháng 2/1973, ông được trao trả theo Hiệp định Paris, trở về tiếp tục sát cánh cùng đồng đội cho đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục tham gia xây dựng chính quyền cách mạng, giữ nhiều trọng trách trong bộ máy chính quyền tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng cho đến ngày về hưu.
Tháng 6 vừa qua, ba Vân lặng lẽ từ giã cõi trần ở tuổi 88. Những ngày gần cuối đời, ánh mắt ông vẫn ánh lên niềm tự hào và mãn nguyện khi được chứng kiến đại lễ kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước - thành quả thiêng liêng mà ông cùng đồng đội đã hiến dâng tuổi trẻ và xương máu để dựng xây.